Áp trần lãi suất cho vay: Nên điều chỉnh từng quý

NHNN cho biết sẽ áp trần lãi suất cho vay tất cả lĩnh vực trong nền kinh tế, thay vì chỉ một số ngành quan trọng như trước đây. Dự kiến tuần này Chính phủ sẽ họp bàn để điều chỉnh lãi suất theo hướng giảm. Liệu giải pháp giảm lãi suất có kích thích nền kinh tế tăng trưởng? ĐTTC đã trao đổi với ông TRƯƠNG VĂN PHƯỚC, Tổng giám đốc NH Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), xoay quanh vấn đề này.

NHNN cho biết sẽ áp trần lãi suất cho vay tất cả lĩnh vực trong nền kinh tế, thay vì chỉ một số ngành quan trọng như trước đây. Dự kiến tuần này Chính phủ sẽ họp bàn để điều chỉnh lãi suất theo hướng giảm. Liệu giải pháp giảm lãi suất có kích thích nền kinh tế tăng trưởng? ĐTTC đã trao đổi với ông TRƯƠNG VĂN PHƯỚC, Tổng giám đốc NH Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), xoay quanh vấn đề này.

PHÓNG VIÊN: - Thưa ông, ông nhận định như thế nào về việc NHNN sẽ áp trần lãi suất cho vay tất cả các lĩnh vực?

Ông TRƯƠNG VĂN PHƯỚC: - Tôi đã từng đề xuất với NHNN từ 2 năm nay, cần bỏ trần lãi suất huy động và thiết lập trần lãi suất cho vay. Việc này theo tôi sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp, cá nhân vay tiền với khả năng chịu đựng được và chi phí chấp nhận được.

Việt Nam là một trong những nền kinh tế ít ỏi có lãi suất huy động và cho vay cao như hiện nay. Tôi nghĩ rằng, tuy có muộn nhưng nếu áp trần lãi suất cho vay với tất cả lĩnh vực sẽ giúp nền kinh tế có những điều kiện để phục hồi tăng trưởng tốt hơn.

- NHNN cho biết tới đây sẽ giảm trần lãi suất cho vay. Theo ông mức giảm nào hợp lý?

- Lãi suất được cấu tạo trên 2 yếu tố căn bản: lãi suất thực và lạm phát dự kiến. Lãi suất cho vay danh nghĩa sắp tới khoảng 12-13%/năm là chấp nhận được. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế nước ta, trần lãi suất cho vay phải được điều chỉnh hàng quý và có thể đến tháng 6-2013 lãi suất cho vay xoay quanh ở mức 10,5-11%/năm, khi đó trần lãi suất huy động 7,5-8%/năm là hợp lý.

Tôi xin nói thêm, lãi suất giảm không đồng nghĩa với việc nới lỏng chính sách tiền tệ, bởi chính sách tiền tệ bao giờ cũng phải thận trọng. Nền kinh tế Việt Nam sức cầu đã bị suy kiệt, trong khi nền kinh tế Hoa Kỳ cũng rất khó khăn nhưng không suy kiệt như Việt Nam.

Thế nhưng Chính phủ Hoa Kỳ vẫn tung ra các gói QE1, QE2, QE3 và những chương trình kích cầu mạnh mẽ hơn. Hy vọng trong một thời gian ngắn tới đây, Chính phủ cũng sẽ có chính sách kích cầu như thế.

- Theo ông, với trần lãi suất cho vay 12-13%/năm doanh nghiệp có thể mạnh dạn vay vốn?

- Theo nguyên tắc mức giá thấp xuống, cầu tăng lên. Nhưng lãi suất chỉ là một phần, quan trọng hơn là sức cầu của nền kinh tế. Tại kỳ họp Quốc hội vừa rồi, nhiều đại biểu cho rằng do hệ thống NHTM siết tín dụng nên các doanh nghiệp suy kiệt, cơ thể cần 1 lít nước nhưng chỉ bơm vài cc, doanh nghiệp không sống được.

Theo tôi vấn đề không phải như thế. NHTM muốn truyền “nước biển” (vốn) vào doanh nghiệp nhưng không tìm ra “ven” để truyền, vì cơ thể của doanh nghiệp quá suy kiệt.

Vậy muốn sức khỏe của nền kinh tế và doanh nghiệp hồng hào, mạnh mẽ phải tăng sức cầu của nền kinh tế. Nếu không tăng sức cầu nền kinh tế, lãi suất thấp cũng không giải quyết được. Thực tế, Eximbank đang cho vay lãi suất chỉ 7, 8 hoặc 9%/năm nhưng rất ít doanh nghiệp vay.

- Trần lãi suất huy động 7,5-8%/năm như quan điểm của ông liệu có khiến dòng tiền dịch chuyển sang các kênh đầu tư khác?

- Đó là điều chúng ta mong muốn. Một nền kinh tế không thể tăng trưởng, phát triển nếu như tất cả dòng vốn của doanh nghiệp và dân cư đi vào trong tài khoản tiết kiệm. Người ta phải dùng vốn đó để sản xuất và kinh doanh mới tạo ra sự tăng trưởng của nền kinh tế.

Tăng trưởng nền kinh tế của bất kỳ nước nào trên thế giới cũng theo công thức: GDP = tiêu dùng + đầu tư + chi tiêu công của Chính phủ + xuất khẩu ròng (hiệu số của xuất khẩu và nhập khẩu). Vì vậy, nếu lãi suất thấp xuống, người dân không gửi tiết kiệm vào NH mà dùng tiền đó để tái đầu tư, là động lực cho tăng trưởng của bất kỳ nền kinh tế nào.  

Doanh nghiệp cần nguồn vốn NH để vượt qua giai đoạn khó khăn.

Doanh nghiệp cần nguồn vốn NH để vượt qua giai đoạn khó khăn. 

- Ngày 30-6-2013 các NHTM sẽ phải chấm dứt việc tất toán và ngưng hẳn việc huy động vàng, khi đó người dân sẽ rút vàng. Điều này có ảnh hưởng đến tổng tài sản của Eximbank?

- Đương nhiên là có. Bảng tổng kết tài sản (tài sản nợ, tài sản có) của Eximbank hay bất kỳ NHTM có huy động và cho vay vàng cấu thành từ 3 yếu tố: VNĐ, ngoại tệ và vàng. Ngày 30-6-2013 là thời điểm ngưng huy động, đến hạn người dân phải rút vàng ra, nhưng NHNN đã chấp nhận cho dịch vụ giữ hộ vàng.

Vấn đề là NHNN có xem giữ hộ vàng như là một khoản mục trong tài sản nợ trong bảng tổng kết tài sản của NHTM hay không. Ý kiến của riêng tôi, vàng giữ hộ không khác USD hay VNĐ giữ hộ trong tài khoản tiết kiệm.

 - Gần đây có thông tin cho rằng dư nợ của Eximbank tăng giảm thất thường do NH thoái vốn của một số đại gia lớn. Thực hư ra sao và chiến lược tăng trưởng tín dụng của Eximbank tới đây như thế nào?

- Không phải như thế. Năm 2011 tăng trưởng tín dụng của Eximbank khoảng 12-13%/năm, trong khi nhiều NHTM khác đã cho vay vượt quy định của NHNN. Vì thế, năm 2012 tiêu chí của NHNN là quy định tín dụng dựa trên “sức khỏe” NH và căn cứ vào dư nợ năm 2011.

Thực tế, nhiều NHTM vượt room tín dụng, trong khi  Eximbank dư room nên sẽ mua bán nợ có tài sản thế chấp theo quy định của NHNN. Bởi nếu số dư nợ cuối năm thấp NH không tăng trưởng được, đó là chuyện điều hòa vốn của nền kinh tế. Năm nay dư nợ của nền kinh tế tăng trưởng thấp, việc Eximbank mua bán nợ để mong muốn có một chỉ tiêu cho vay nhiều hơn là chuyện bình thường.

Thế mạnh của Eximbank là cho vay xuất nhập khẩu, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa, tín dụng tiêu dùng, nhà ở. Eximbank vẫn tiếp tục tập trung phát triển tín dụng các lĩnh vực đó.

Trong bối cảnh nền kinh tế đang rất khó khăn, việc tăng trưởng tín dụng không dễ, Eximbank chấp nhận giảm lợi nhuận để chia sẻ giảm lãi suất cho doanh nghiệp, nhưng vẫn không dễ tìm khách hàng tốt để cho vay.

- Xin cảm ơn ông.

Các tin khác