Hai người phụ nữ Mông ấy sống ở thôn Tà Đú, xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên Quang - nơi trước đây công nghệ vẫn được xem là rất xa với đời sống thường ngày.
Mã QR cạnh bếp than hồng
Việt Nam hùng cường và thịnh vượng là khát vọng của mọi người dân Việt Nam. Tăng trưởng cao và bền vững, trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045 là mục tiêu tham vọng thể hiện khát vọng đó, đồng thời cũng là quyết tâm của những người đứng đầu đất nước.
Chúng ta có thể bứt phá và hiện thực hóa mục tiêu đầy tham vọng này như thế nào? Câu hỏi ấy lại văng vẳng khi Xuân Bính Ngọ 2026 gõ cửa, Việt Nam đứng trước một giai đoạn mang tính bước ngoặt lịch sử: tăng tốc để đạt các mục tiêu phát triển đã định, đồng thời tìm ra những động lực tăng trưởng mới mà không thể sửa mô hình cũ bằng kỹ thuật.
Theo Nghị quyết 57, mục tiêu đến 2030: quy mô kinh tế số chiếm ≥30% GDP; tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến và sử dụng giao dịch không dùng tiền mặt đều vượt 80%; trên 40% DN tham gia hoạt động đổi mới, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia.
Chuyển đổi số, kinh tế số nghe có vẻ vĩ mô, nhưng ở những nơi như thôn Tà Đú, nó hiện ra bằng những chi tiết rất đời thường: chiếc điện thoại trên tay người bán ngô, mã QR đặt cạnh bếp than hồng nướng ngô, nướng trứng, hay bản đồ số giúp tìm đường giữa vùng núi... Công nghệ không còn đứng ngoài đời sống, mà đã bắt đầu đi vào sinh hoạt hàng ngày của người dân.
Cũng tại Tà Đú, Giàng Thị Mỷ nhỏ nhẹ nói: với nhiều người trong bản, điện thoại di động vẫn là một giấc mơ - muốn mà chưa có. Câu nói thật lòng đó gợi mở rõ khoảng cách còn tồn tại giữa tiềm năng của kinh tế số và điều kiện tiếp cận thực tế của người dân.
Theo số liệu về xã Mèo Vạc, hiện địa bàn đạt khoảng 95% vùng phủ sóng 4G; 80% người dân có điện thoại di động; 20% hộ có internet cố định. Tuy nhiên, nhìn rộng ra toàn tỉnh Tuyên Quang vẫn còn 273 thôn “trắng sóng” hoặc lõm sóng. Khoảng trống đó chỉ ra nhiệm vụ trọng tâm để kinh tế số thực sự bao trùm.
Từ góc nhìn văn hóa - xã hội, TS. Lò Giàng Páo, nhà dân tộc học, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Dân tộc cho rằng, kinh tế số đang tạo ra những thay đổi căn bản trong đời sống đồng bào, từ thẻ bảo hiểm y tế, đến căn cước công dân, điện thoại và internet…
Không chỉ giúp tiếp cận dịch vụ công, y tế, giáo dục thuận tiện hơn, công nghệ số còn mở ra cơ hội sinh kế mới, từ du lịch cộng đồng đến tiêu thụ nông sản… Nhưng theo ông, nếu không chú trọng tính bao trùm, khoảng cách số rất dễ trở thành một dạng bất bình đẳng mới.
Câu chuyện ở Tà Đú vì thế không chỉ là một lát cắt đời sống, mà phản chiếu bức tranh lớn hơn của kinh tế số Việt Nam: đã lan tỏa mạnh mẽ, chạm tới từng ngõ ngách, nhưng vẫn cần những chính sách và đầu tư đủ sâu để không ai bị bỏ lại phía sau.
Không gian phát triển mới
Theo một báo cáo Kinh tế số khu vực Đông Nam Á 2025 công bố vào 25-11-2025, quy mô kinh tế số của Việt Nam ước đạt 39 tỷ USD vào cuối năm 2025. Việt Nam trở thành nền kinh tế số tăng trưởng nhanh thứ hai tại Đông Nam Á. Dư địa của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng ngày càng thu hẹp, trong khi khát vọng tăng trưởng cao, nhanh và bền vững ngày càng lớn.
Như vậy những động lực truyền thống đã tiệm cận giới hạn. Còn kinh tế số đang mở ra một không gian phát triển mới, vượt khỏi các giới hạn địa lý và nguồn lực hữu hình, tạo động lực phát triển mới cho phép Việt Nam đi xa, đi nhanh hơn.
Theo TS. Cấn Văn Lực, kinh tế số đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí giao dịch, mở rộng thị trường và thúc đẩy đổi mới sáng tạo - những yếu tố then chốt để duy trì tăng trưởng dài hạn. Tuy nhiên, chuyển đổi số ở Việt Nam vẫn diễn ra không đồng đều và chưa đạt mục tiêu.
Ước tính trong nước năm 2025, kinh tế số mới đóng góp khoảng 18% GDP (mục tiêu đặt ra là 20%), cho thấy dư địa phát triển vẫn còn rất lớn nhưng cũng không ít thách thức.
Một số lĩnh vực như tài chính - ngân hàng, thương mại điện tử, logistics… đã đi khá xa, nhưng nhiều ngành sản xuất, nông nghiệp và doanh nghiệp (DN) nhỏ và siêu nhỏ vẫn khó khăn trong chuyển đổi số. Khoảng cách số giữa các khu vực, các nhóm DN, nhóm dân cư có nguy cơ gia tăng nếu không có chính sách kịp thời.
Khảo sát của Liên đoàn Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, nhiều DN vẫn dừng ở giai đoạn rất sơ khởi của chuyển đổi số (69% số DN mới tiếp cận chuyển đổi số ở mức độ ứng dụng cơ bản; hơn 5% DN chưa bắt đầu chuyển đổi số).
Làm thế nào để kinh tế số và xã hội số thực sự trở thành không gian phát triển mới của Việt Nam, chứ không chỉ là sự số hóa của mô hình cũ? Rất nhiều việc cần làm, nhưng trong đó cần có thị trường số quốc gia lấy DN làm trung tâm, chuyển từ hỗ trợ DN chuyển đổi số sang tạo thị trường số, tạo cầu cho DN và tạo niềm tin cho DN số Việt Nam.
Nỗi sợ lớn nhất là tụt hậu
Chuyển đổi số, kinh tế số không phải là áp lực và quyết tâm ở tầm vĩ mô, mà là một quá trình rất vi mô đời thường, gắn với những lựa chọn mang tính sống còn thể hiện rõ ở câu chuyện của các DN.
Trong một cuộc gặp mặt với lãnh đạo nhiều tập đoàn lớn và các chuyên gia kinh tế, ông Lữ Thành Long, Chủ tịch HĐQT MISA đã nhận được tràng pháo tay từ những người tham dự khi nói: “Nỗi sợ lớn nhất của tôi là bị tụt hậu”. Ông gọi khéo đó là nỗi sợ, nhưng nó chính là động lực thúc đẩy MISA liên tục tự làm mới mình suốt hơn ba thập niên qua và đến nay vẫn đang nỗ lực tiến lên, lan rộng.
Từ những phần mềm kế toán đầu tiên phục vụ DN nhỏ và vừa, MISA từng bước xây dựng hệ sinh thái nền tảng số, đồng hành cùng hàng triệu hộ kinh doanh và DN Việt Nam trong quá trình số hóa. Việc MISA chọn Agentic AI làm trụ cột chiến lược, cho thấy cách DN Việt đang chủ động tìm kiếm những giá trị gia tăng mới trong kỷ nguyên số.
Ở một lát cắt khác, tại Diễn đàn quốc gia phát triển Kinh tế số và xã hội số lần thứ 3 (ngày 20-12-2025), ông Phạm Kim Hùng, Nhà sáng lập kiêm Tổng giám đốc Base Enterprise, đã chia sẻ câu chuyện đồng hành cùng DN Việt. Base cung cấp nền tảng quản trị DN số trong việc ứng dụng AI để số hóa báo cáo, tối ưu quản trị và hỗ trợ ra quyết định.
Theo ông Hùng, công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp DN giải quyết những bài toán rất cụ thể trong vận hành và quản trị, chứ không phải là những giải pháp xa rời thực tiễn.
Đến giữa năm 2025 có 80.000 DN công nghệ số, xuất khẩu công nghệ số 172 tỷ USD; thương mại điện tử đạt 36 tỷ USD. Những câu chuyện như MISA hay Base cho thấy một lớp DN số Việt Nam đang hình thành: lấy dữ liệu làm tài sản, lấy nền tảng làm không gian phát triển, lấy đổi mới sáng tạo làm động lực cạnh tranh, đồng thời lan tỏa công nghệ, đưa cộng đồng DN và hàng triệu hộ kinh doanh không bị tụt lại trong làn sóng chuyển đổi số.
Theo PGS.TS Trần Kim Chung, nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương, để tận dụng được cơ hội đó, cần một tư duy mới, chiến lược mới, cách làm mới, sâu hơn và hành động quyết liệt. Đó là kiến tạo một cấu trúc nền kinh tế số quốc gia thay vì số hóa rời rạc từng lĩnh vực, Nhà nước đóng vai kiến trúc sư trưởng định hình cấu trúc để thị trường vận hành, tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích đổi mới sáng tạo.
Màu hồng nào cũng đi liền với chính sách
Theo TS. Võ Trí Thành, kinh tế số đang lan rộng, tiến sâu và mở ra nhiều cơ hội, nhưng “màu hồng nào cũng đi liền với chính sách”. Rất thận trọng, TS. Vũ Đình Ánh lưu ý, chuyển đổi số có chi phí lớn và tiềm ẩn rủi ro, và nếu triển khai thiếu đồng bộ có thể tạo ra những bất cân đối mới. Sự phát triển nhanh của AI và dữ liệu lớn đặt ra các thách thức về an ninh, quyền riêng tư, việc làm và phân hóa xã hội, đòi hỏi khung khổ chính sách phải theo kịp thực tiễn.
Công nghệ thay đổi quá nhanh, các mô hình kinh doanh mới liên tục xuất hiện và có nhiều điều chúng ta chưa thể biết trước. Nhưng không thể chờ đợi thể chế và khung pháp lý hoàn thiện rồi mới hành động. Không làm thì tụt hậu, không đạt được khát vọng phát triển.
“Không còn cách nào khác, Việt Nam phải “vừa chạy vừa làm” - working and running - tức vừa làm vừa triển khai, vừa khẩn trương hoàn thiện chính sách và thể chế” - TS. Võ Trí Thành kết luận.
Chuyển đổi số, kinh tế số và đổi mới sáng tạo đang mở ra một không gian phát triển mới cho Việt Nam trong kỷ nguyên số. Cơ hội chỉ trở thành hiện thực nếu Việt Nam lựa chọn đúng cách đi và có cách làm phù hợp.
Kinh tế số là câu chuyện của khát vọng phát triển, của thể chế, của DN và của cả nền kinh tế trên hành trình hướng tới một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Kinh tế số vì thế không chỉ là động lực tăng trưởng, mà còn là phép thử cho năng lực quản trị phát triển bao trùm của Việt Nam.