LTS: Việt Nam được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao từ tháng 7-2026, đánh dấu thành quả đáng tự hào sau 4 thập niên đổi mới. Từ cột mốc này, một vấn đề lớn hơn được đặt ra: Việt Nam cần những động lực nào để nâng cao năng lực cạnh tranh và tiếp tục phát triển trong bối cảnh kinh tế toàn cầu ngày càng khắc nghiệt?
Để tiến lên nấc thang nước có thu nhập cao, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào những động lực tăng trưởng truyền thống. Nếu chậm đổi mới mô hình phát triển, Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, dù vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng tương đối cao.
Nguy cơ mắc kẹt giữa “hai gọng kìm”
Mục tiêu của Việt Nam là đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; GDP bình quân đầu người khoảng 8.500USD và tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ 10% trở lên. Đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao.
Năm 2025, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt 5.026USD (Ngân hàng Thế giới tính tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người Việt Nam là 4.970USD). Tuy nhiên, khoảng cách từ mức 5.026USD đến mục tiêu GDP bình quân đầu người 8.500USD vào năm 2030 vẫn đặt ra thách thức lớn.
Trên thế giới, nhiều nước đã đi nhanh từ thu nhập thấp lên trung bình, rồi chững lại. Vì thế, chặng đường đến năm 2030 đòi hỏi không chỉ tốc độ tăng GDP mà còn cả năng lực làm chủ công nghệ, nâng năng suất, phát triển doanh nghiệp trong nước và tăng sức chống chịu của nền kinh tế.
Sản xuất bảng mạch điện tử tại Công ty TNHH Doosan Electro-Materials Việt Nam, KCN Đại An, TP Hải Phòng. Ảnh: VIẾT CHUNG
TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam (VFCA), nêu ý kiến, một nền kinh tế có thể tăng nhanh vài năm nhờ đầu tư, tín dụng hoặc xuất khẩu thuận lợi, nhưng để duy trì tăng trưởng cao, nền kinh tế phải liên tục tạo ra giá trị mới.
“Bài học trên thế giới cho thấy nhiều quốc gia mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình. Lao động không còn rẻ, tài nguyên cạn dần, hiệu quả vốn giảm. Doanh nghiệp lại chưa đủ sức nghiên cứu, thiết kế, xây dựng thương hiệu hoặc dẫn dắt chuỗi cung ứng. Khi đó, nền kinh tế bị kẹt giữa hai “gọng kìm”: không đủ rẻ để cạnh tranh với nước đi sau, chưa đủ giỏi để cạnh tranh với nước đi trước”, TS Lê Minh Nghĩa chia sẻ.
Phân tích rõ hơn về hai “gọng kìm” này, TS Lê Minh Nghĩa cho rằng, “gọng kìm” thứ nhất là sự suy giảm của các động lực tăng trưởng truyền thống. Dư địa chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp không còn rộng. Tiền lương tăng làm mờ lợi thế nhân công giá rẻ. Dân số bắt đầu già hóa; đất đai, tài nguyên ngày càng khan hiếm...
Tăng trưởng bằng mở rộng quy mô sẽ ngày càng tốn kém và kém hiệu quả. “Gọng kìm” thứ hai là các năng lực thay thế hình thành chậm. Việt Nam là trung tâm sản xuất, xuất khẩu lớn, nhưng giá trị giữ lại trong nước còn khiêm tốn.
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt hơn 434 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng kim ngạch đó, khu vực kinh tế trong nước chỉ chiếm 19,3%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 80,7%.
Những con số này cho thấy một thực tế đáng suy ngẫm: hàng hóa sản xuất tại Việt Nam hiện diện rộng, nhưng năng lực của doanh nghiệp Việt Nam chưa tăng tương xứng. Hoạt động của nhiều doanh nghiệp vẫn chỉ ở khâu gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng thấp. Công nghệ, thiết kế, dữ liệu và thương hiệu - những khâu quyết định giá trị - vẫn chủ yếu do doanh nghiệp nước ngoài nắm giữ.
Khoảng trống kỹ năng cũng là điều đáng lo. Không ít người trẻ có bằng cấp nhưng thiếu năng lực số, ngoại ngữ và kỹ năng giải quyết vấn đề.
“Số liệu thống kê cho thấy quy mô lao động có kỹ năng chính quy vẫn còn hạn chế so với yêu cầu phát triển các ngành mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an toàn thông tin, bán dẫn, tự động hóa, logistics thông minh, tài chính số và thương mại điện tử xuyên biên giới”, TS Ngô Trí Trung, Trường Đại học CMC, đánh giá. Cũng theo số liệu của Cục Thống kê, 9 tháng đầu năm 2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt chưa đến 30%.
Tạo động lực tăng trưởng từ năng lực nội sinh
Theo Ngân hàng Thế giới, kể từ năm 1990, chỉ có 27 nền kinh tế chuyển thành công từ nhóm thu nhập trung bình lên thu nhập cao. Việt Nam vẫn mang một số đặc điểm tương đồng với những nền kinh tế chưa thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình: tăng trưởng dựa nhiều vào khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong lĩnh vực lắp ráp, giá trị gia tăng nội địa thấp; chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) thấp; hiệu quả phân bổ nguồn lực chưa tối ưu, dòng vốn chưa chảy đến những nơi sử dụng hiệu quả nhất…
Dù vậy, Việt Nam cũng có những lợi thế quan trọng mà không phải quốc gia nào mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình cũng có được. Theo bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào, Việt Nam có lực lượng lao động trẻ và năng động, nền kinh tế vĩ mô ổn định, vị trí địa chiến lược ở trung tâm khu vực tăng trưởng năng động nhất châu Á. Quan trọng hơn hết là ý chí mạnh mẽ cùng năng lực cải cách, thích ứng đã được chứng minh qua thực tiễn.
Mua sắm tại một trung tâm thương mại ở Hà Nội. Ảnh: QUANG PHÚC
Những lợi thế đó chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới nếu được chuyển hóa thành năng lực tạo ra giá trị cao hơn. TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, lưu ý, mục tiêu cốt lõi không chỉ là những con số tăng trưởng, mà là khả năng làm chủ công nghệ và chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp Việt Nam không thể đứng bên cạnh khu vực FDI, mà phải hấp thụ công nghệ, tích lũy năng lực và tiến lên những phân đoạn có giá trị cao hơn.
Bên cạnh đó, nâng cao năng suất liên tục là chìa khóa để thoát bẫy thu nhập trung bình. Tuy nhiên, tăng năng suất không đơn giản là làm việc nhanh hơn mà là tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng lượng vốn, lao động, đất đai và năng lượng. Điều đó đòi hỏi công nghệ, quản trị tốt hơn và phân bổ nguồn lực đến đúng những doanh nghiệp sử dụng hiệu quả.
TS Ngô Trí Trung nhấn mạnh, Việt Nam không thể đi tới công nghiệp hiện đại bằng tư duy công nghiệp cũ. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nhân lực chất lượng cao phải được đặt ở trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia.
Theo TS Lê Minh Nghĩa, giải pháp để thoát bẫy thu nhập trung bình không chỉ là lựa chọn một chính sách đơn lẻ mà là yêu cầu đồng bộ, kiên trì và nhất quán trong triển khai nhiều trụ cột: nâng cấp công nghệ, phát triển con người, hoàn thiện thể chế và xây dựng doanh nghiệp nội địa đủ mạnh. Những nhiệm vụ này cần được tập trung thực hiện ngay trong giai đoạn 2026-2030.
Nếu chuyển đổi thành công, mục tiêu đến năm 2030 sẽ không chỉ là một cột mốc về thu nhập, mà còn là bước chuyển từ tăng trưởng dựa vào nguồn lực sang tăng trưởng dựa vào năng lực, từ tham gia chuỗi giá trị sang nâng cấp vị thế trong chuỗi; từ phát triển nhanh sang phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và nhân văn hơn. Đây chính là nền tảng để Việt Nam tiến gần hơn tới khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.
Theo Ngân hàng Thế giới, phân loại thu nhập của các quốc gia được cập nhật vào ngày 1-7 hàng năm, dựa trên ước tính tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người của năm trước đó. Ngân hàng Thế giới phân loại các nền kinh tế theo tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người thành 4 nhóm: thu nhập thấp, trung bình thấp, trung bình cao và thu nhập cao.
Theo cập nhật của Ngân hàng Thế giới năm 2026, các nền kinh tế thu nhập trung bình cao là những nền kinh tế có GNI bình quân đầu người từ 4.636-14.375USD.