FTA VN-Hàn Quốc: Chưa tận dụng cơ hội

Chính thức khởi động tiến trình đàm phán từ tháng 8, Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam - Hàn Quốc được kỳ vọng sẽ giúp GDP Việt Nam tăng 1,47-3,22% và Hàn Quốc tăng 0,19-0,74%. Tuy nhiên, không dễ tận dụng các cơ hội từ FTA Việt Nam - Hàn Quốc nếu không có sự chuẩn bị tích cực.

Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 12-1992 đến nay, thương mại 2 chiều giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã tăng 36 lần, từ 0,5 tỷ USD lên 18 tỷ USD vào năm 2011. Năm 2011, Hàn Quốc là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam và Việt Nam là thị trường xuất khẩu lớn thứ 8 của Hàn Quốc.

Tuy nhiên, nhập siêu của Việt Nam từ Hàn Quốc cũng tăng mạnh, từ mức 1,7 tỷ USD năm 2000 lên đến 8,4 tỷ USD năm 2011.

Trong cơ cấu thương mại, Việt Nam nhập khẩu chủ yếu máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, xăng dầu, sắt thép, chất dẻo... và xuất chủ yếu khoáng sản, nguyên liệu thô, hàng nông-lâm-thủy sản, giày dép, đồ gỗ... Đặc biệt nổi bật trong quan hệ thương mại giữa 2 nước là cơ cấu hàng hóa xuất khẩu có tính bổ sung rõ nét, cơ bản không cạnh tranh trực tiếp.

Trong đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Hàn Quốc vào Việt Nam, lũy kế đến 20-12 Hàn Quốc có hơn 3.100 dự án ở Việt Nam với số vốn đăng ký gần 24,5 tỷ USD, lớn nhất trong số 11 đối tác đầu tư vào Việt Nam về số dự án và thứ 2 về tổng vốn đăng ký. Cũng tính đến thời điểm trên, số vốn thực hiện từ phía Hàn Quốc đạt hơn 8,3 tỷ USD, đứng thứ 2 sau lãnh thổ Đài Loan.

Dù chưa có đánh giá cụ thể về tác động thương mại khi 2 bên ký FTA, nhưng đánh giá từ FTA giữa ASEAN và Hàn Quốc (AKFTA - bắt đầu từ năm 2007), cho thấy Việt Nam có thế mạnh trong xuất khẩu như chè, hạt tiêu, cà phê, hoa quả...

Nhưng các cam kết của Hàn Quốc với nhóm hàng này rất hạn chế, nhiều sản phẩm của Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu kiểm dịch nên kết quả xuất khẩu vào Hàn Quốc chưa đạt như mong muốn. Việc thực thi AKFTA đã góp phần tích cực vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đối với một số mặt hàng thủy sản, dệt may, nhưng các mặt hàng nông sản vẫn chưa có cải thiện đáng kể; kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng chưa tận dụng hết tiềm năng của FTA.

Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vốn đã hưởng mức thuế suất thấp hoặc 0% như nguyên liệu thô, nông sản... Trong khi đó, các mặt hàng máy móc, thiết bị, điện tử... là đối tượng được hưởng ưu đãi còn chiếm tỷ trọng thấp trong xuất khẩu của Việt Nam. Lợi ích từ thuế ưu đãi không đủ hấp dẫn trong khi phát sinh chi phí vật chất và thời gian (C/O, thủ tục hải quan).

Trong nhập khẩu, lĩnh vực này sẽ tăng do chịu tác động kép của các cam kết WTO và FTA: nhập khẩu các mặt hàng máy móc, thiết bị, điện tử chiếm tỷ trọng ngày càng tăng do được hưởng thuế suất thấp; nhiều doanh nghiệp (DN) FDI bỏ sản xuất để chuyển sang nhập khẩu do không còn được hưởng thuế bảo hộ, trong khi thị trường phân phối được mở cửa theo cam kết WTO.

Những tồn tại trên cho thấy chúng ta chưa thực sự chủ động tham gia tiến trình FTA nên chưa tận dụng tốt các cơ hội, dẫn đến nhập siêu; chưa tạo được chuyển dịch về cơ cấu hàng xuất khẩu; hệ thống quản lý chưa hoàn thiện (cạnh tranh, tiêu chuẩn kỹ thuật, sở hữu trí tuệ).

Trong khi đó, từ năm 2012 tốc độ cắt giảm thuế sẽ được đẩy nhanh, đặc biệt sau 2015 thuế suất sẽ xuống rất thấp. Vì thế, nếu trong giai đoạn tới đây, đặc biệt sau năm 2015, chúng ta không có sự chuẩn bị tích cực sẽ khó cải thiện cơ cấu xuất khẩu hiện nay và nhập siêu sẽ gia tăng, nhất là khi thuế suất với hàng hóa từ Hàn Quốc, Nhật Bản cắt giảm.

Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản về chiến lược đàm phán FTA của Việt Nam tới năm 2020. Theo đó, nhiệm vụ đầu tiên của Việt Nam khi tham gia FTA là phải góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hiện đại hóa công nghiệp. Hay nói cách khác, FTA phải tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nhiệm vụ thứ hai là việc đàm phán phải góp phần cải cách, nâng cao sức cạnh tranh của DN.

Nhiệm vụ thứ ba là phải phù hợp năng lực nền kinh tế, bởi cam kết FTA là có đi có lại, nếu DN không tận dụng được xem như FTA đó không hiệu quả. Do vậy, trong đàm phán phải tăng tham vấn DN, nâng cao vai trò của các cơ quan nghiên cứu trong phân tích, dự báo.

Các tin khác