Giữ biển cho muôn đời sau

“Hợp tác quốc tế phải được chuyển hóa thành năng lực của chính chúng ta. Vốn, công nghệ và tri thức từ bên ngoài chỉ trở thành sức mạnh biển khi giúp hình thành đội ngũ, dữ liệu, quy trình và khả năng tự vận hành ở trong nước”, ông Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nhấn mạnh tại Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 diễn ra vào ngày 2-10 vừa qua về 4 vấn đề quan trọng liên quan đến việc triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Thứ nhất, hợp tác và hội nhập quốc tế là một trụ cột của việc phát huy sức mạnh biển. Các thách thức trên biển ngày càng phức tạp và mang tính xuyên biên giới, từ an ninh hàng hải, khai thác thủy sản bất hợp pháp đến ô nhiễm đại dương và biến đổi khí hậu. Không quốc gia nào có thể giải quyết hiệu quả những vấn đề đó bằng hành động đơn phương.

Vì vậy, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán cần gắn với xây dựng môi trường biển hòa bình, ổn định, an toàn, dựa trên luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Thứ hai, chuyển hóa hợp tác và hội nhập quốc tế thành nguồn lực cho phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, có sức cạnh tranh toàn cầu. Các thảo luận cho thấy dư địa hợp tác còn rất lớn trong hàng hải và logistics, năng lượng tái tạo ngoài khơi, thủy sản bền vững, du lịch biển và các ngành kinh tế đại dương mới.

Nhưng điều quan trọng không chỉ là thu hút thêm bao nhiêu nguồn lực, mà là những nguồn lực đó tạo ra được bao nhiêu năng lực mới cho Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam cần chủ động hơn trong kiến tạo hợp tác và lựa chọn những dự án không chỉ đem lại nguồn lực đầu tư, mà còn góp phần chuyển giao công nghệ, phát triển nhân lực và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Hàng hóa, container siêu trường, siêu trọng tập kết tại bãi, chờ xuất khẩu bằng đường biển qua cảng nước sâu Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai. Ảnh: NGỌC OAI

Thứ ba, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu biển làm nền tảng cho quản trị biển hiện đại. Dữ liệu và tri thức biển đang trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị, dự báo và hoạch định chính sách.

Việt Nam cần xây dựng hệ thống dữ liệu biển đồng bộ, liên thông, thường xuyên cập nhật; đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế về quan sát, chia sẻ và xử lý thông tin trên cơ sở bảo đảm pháp luật, an ninh và lợi ích quốc gia. Hợp tác khoa học, công nghệ cũng không nên dừng ở trao đổi học thuật, mà phải tạo ra công nghệ, sản phẩm, mô hình quản trị và năng lực mới cho Việt Nam.

Thứ tư, đặt con người, cộng đồng, doanh nghiệp và hệ sinh thái vào trung tâm của hợp tác và hội nhập quốc tế vì một không gian biển bền vững. Sức mạnh biển cuối cùng phải được phản ánh trong chất lượng cuộc sống của người dân, sức khỏe của hệ sinh thái biển và khả năng phát triển bền vững của các cộng đồng ven biển.

Hợp tác quốc tế cần giúp người dân tiếp cận công nghệ xanh, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, tạo sinh kế bền vững; đồng thời phát huy văn hóa biển như một nguồn lực mềm kết nối Việt Nam với thế giới.

Lễ hội Dinh Cô (xã Long Hải, TPHCM) 2026 thu hút hàng trăm ngàn lượt du khách trong nước và quốc tế. Ảnh: NGUYỄN BAO THẢO

Biển cạn cá, ngư dân sẽ mất kế sinh nhai. Muốn làm giàu lâu dài từ biển, phải chấm dứt khai thác tận diệt, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) và giúp người dân chuyển đổi nghề phù hợp. Bảo tồn cũng phải được đầu tư đến nơi đến chốn, không thể đặt mục tiêu lớn rồi để thiếu người, thiếu kinh phí ngay tại những vùng biển cần bảo vệ.

Mặt trời vừa nhô lên, cảng cá Thuận An (TP Huế) đã nhộn nhịp. Lực lượng biên phòng có mặt từ rất sớm, vừa hướng dẫn, vừa kiểm tra hồ sơ, thuyền viên, thiết bị liên lạc và hệ thống giám sát hành trình, chỉ cho tàu rời cảng khi đủ điều kiện. Ngư dân Huỳnh Thẩm cho biết, tàu vươn khơi hay neo đậu đều phải duy trì thiết bị định vị.

“Chúng tôi được hướng dẫn cụ thể về những vùng được phép khai thác và những khu vực không được đánh bắt. Bà con luôn nhắc nhở nhau chấp hành nghiêm các quy định, không để xảy ra vi phạm”, ông Thẩm nói.

Theo Đại úy Nguyễn Văn Nhân, Trạm trưởng Trạm Kiểm soát Biên phòng Thuận An, cùng với kiểm soát xuất, nhập bến và tuần tra trên biển, lực lượng biên phòng phối hợp chính quyền tổ chức cho chủ tàu, thuyền trưởng ký cam kết không khai thác trái phép tại vùng biển nước ngoài, tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về chống IUU.

Anh Huỳnh Ngọc Hưng, nhân viên Ban Quản lý Cảng cá Tam Quan (Gia Lai) xử lý các hồ sơ, kiểm tra nhật ký khai thác điện tử các tàu cá trước khi nhập cảng bờ. Ảnh: NGỌC OAI

Tại Quảng Trị, ngư dân đang chuyển sang nhật ký khai thác điện tử để chấp hành quy định chống khai thác IUU. Ông Hồng Quang Minh, chủ tàu ở phường Đồng Hới, cho biết, ông và bạn thuyền đã sử dụng thành thạo thiết bị giám sát hành trình tích hợp GPS.

Thiết bị này ghi nhận vị trí, thời gian; cập nhật thời điểm ngư dân thả, thu lưới và sản lượng. Dữ liệu được đồng bộ với hệ thống truy xuất nguồn gốc, giúp hạn chế sai sót, thuận tiện kiểm tra. Theo kế hoạch, Quảng Trị áp dụng nhật ký điện tử với tàu từ 15m trở lên từ 1-9-2026, mở rộng áp dụng đến tàu từ 12m trở lên từ 1-1-2027.

“Từ khi ứng dụng nhật ký điện tử, ngư dân không phải ghi chép thủ công sau mỗi mẻ lưới mà chỉ cần thao tác trên ứng dụng”, anh Huỳnh Ngọc Hưng, nhân viên Ban Quản lý cảng cá Tam Quan (Gia Lai), chia sẻ. Tại đây, việc sử dụng hệ thống giám sát hành trình, nhật ký điện tử và liên lạc cứu hộ nhiều khi còn gặp khó vì đường truyền chập chờn khi thời tiết xấu.

Ông Nguyễn Anh Dũng, Phó Giám đốc Ban Quản lý cảng cá tỉnh Gia Lai, cho biết địa phương đang khảo sát, thí điểm Internet vệ tinh Starlink trên một số tàu cá để đánh giá hiệu quả trước khi có chủ trương cụ thể. Giải pháp được kỳ vọng giúp ngư dân duy trì liên lạc, thông báo cho lực lượng chức năng khi gặp sự cố.

Đại tá Trần Tiến Hải, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Gia Lai, cho biết, tỉnh quản lý chặt theo phương châm “từ bờ đến biển, từ biển về bờ”, gắn kiểm tra với tuyên truyền để ngư dân khai thác đúng pháp luật, bảo vệ nguồn lợi và sinh kế lâu dài.

Các ngư dân kiểm tra các thiết bị điện tử, vệ tinh, dò sóng biển để chuẩn bị vượt cảng cá Tam Quan (Gia Lai) vươn khơi. Ảnh: NGỌC OAI

Cùng vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học, hệ sinh thái biển, người dân ở vùng biển Phước Thiện và Hòn Cáp, xã Vạn Tường (tỉnh Quảng Ngãi), kể với chúng tôi câu chuyện về những bãi rong mơ. Trước đây, người dân có thói quen khai thác tự phát, cắt, cào tận gốc các bãi rong mơ chưa trưởng thành.

Theo ông Nguyễn Minh Hoàng, Phó Chủ tịch UBND xã Vạn Tường, tình trạng này nay không còn nữa. Xã đã thành lập tổ cộng đồng, giới hạn thời gian khai thác trong năm, tạo điều kiện cho rong sinh sản và bảo vệ bãi sinh sản của các loài cá. Thời gian được phép khai thác từ 30-50 ngày mỗi năm, trong khoảng giữa tháng giêng đến cuối tháng ba âm lịch. Nhờ vậy, có thể giữ gìn hơn 300ha rong mơ tại địa phương.

Chuyên gia bảo tồn biển đang kiểm tra "sức khỏe" các quần thể rạn san hô đáy biển ở đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ảnh: XUÂN HUYÊN

Còn ở Lý Sơn, việc bảo tồn biển lại gặp khó vì lực lượng chuyên trách thiếu người và kinh phí. Ông Huỳnh Ngọc Dũng, Giám đốc Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Lý Sơn, cho rằng bảo tồn không thể bị nhầm lẫn với “bảo tàng”, nơi hiện vật bị ngăn cấm tiếp cận. Bảo tồn biển phải được hiểu là hoạt động đầu tư tích lũy vào nguồn vốn tự nhiên. Giá trị của khu bảo tồn nằm ở khả năng tái tạo nguồn lợi hải sản và duy trì sức hấp dẫn du lịch. Rạn san hô, thảm cỏ biển là “vườn ươm” của các loài thủy sản, cần được gìn giữ để duy trì nguồn lợi.

Ông Dũng cho biết sau sáp nhập, Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Lý Sơn nhập vào Trung tâm Dịch vụ công Đặc khu Lý Sơn, không còn tư cách pháp nhân riêng khi làm việc với các đối tác, tổ chức quốc tế. Biên chế đơn vị giảm từ 10 xuống 6 người, kinh phí vận hành tàu tuần tra bị cắt giảm. Hai tàu tuần tra được cấp trước đây chưa có nhân lực sử dụng.

“Mục tiêu quốc gia đã đặt ra rất rõ, về quản trị không gian biển, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, trong đó diện tích các khu bảo tồn, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia.

Tuy nhiên, hiện cả nước mới chỉ có 12/16 khu bảo tồn được thiết lập và hiệu quả vận hành rất thấp. Vì vậy, các mục tiêu về quản trị không gian biển, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cần đi cùng điều kiện thực hiện cho các khu bảo tồn”, ông Dũng đề xuất.

Những ngư dân xã phường Xuân Đài (tỉnh Đắk Lắk) hành nghề giã cào mong chính sách để sớm chuyển đổi nghề hoặc yên tâm mưu sinh. Ảnh: NGỌC OAI

Thợ lặn thuộc Khu bảo tồn Lý Sơn (Đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) dọn rác đáy biển, bảo vệ rạn san hô. Ảnh: XUÂN HUYÊN

Ông Lâm Hải Giang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, cho biết tỉnh xác định phát triển kinh tế biển dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu để kiểm soát sức chịu tải, hạn chế ô nhiễm. Tỉnh đã thống nhất chủ trương hợp tác với Viện Nghiên cứu Phát triển Pháp và Trung tâm Nghiên cứu Vũ trụ Quốc gia Pháp nghiên cứu xây dựng trạm quan trắc biển và dự án quan sát Trái đất, phát triển bền vững.

Trạm quan trắc tại vùng biển Quy Nhơn dự kiến thu thập dữ liệu môi trường dài hạn, giúp xác định nơi phù hợp phát triển đô thị, công nghiệp, cảng biển, nuôi biển, du lịch; đánh giá khả năng chịu phát thải và tác động cộng hưởng giữa các nguồn thải. Từ đó, tỉnh có cơ sở chủ động phòng ngừa, cảnh báo sớm và quản lý phát triển theo sức chịu tải môi trường. “Không chỉ biết khai thác mà phải đo được, hiểu được, dự báo được và quản trị được biển. Gìn giữ, chăm sóc biển hôm nay để cho muôn đời sau", ông Giang nhấn mạnh.

GS Sylvain Ouillon, Trưởng đại diện Viện Nghiên cứu Phát triển Pháp tại Việt Nam và Philippines, cho rằng phát triển kinh tế biển theo hướng xanh cần kiểm soát môi trường, nhất là chất lượng nước, để bảo đảm an toàn cho thủy sản, hệ sinh thái và người tiêu dùng.

Theo ông, quan trắc thường xuyên tạo cơ sở khoa học cho khai thác, nuôi trồng và phát triển kinh tế ven biển; giúp xác định ô nhiễm, điều chỉnh khi vượt ngưỡng an toàn. Đặc biệt, kết quả quan trắc có thể tạo cơ sở chứng minh chất lượng, độ an toàn của thủy sản và sản phẩm nuôi biển, qua đó hỗ trợ xuất khẩu. Việt Nam cần nâng năng lực phát hiện chất ô nhiễm mới, xây dựng phòng thí nghiệm chuyên sâu và đào tạo nhân lực phân tích.

Người dân cùng nhân viên Khu bảo tồn biển Lý Sơn thả rùa biển về đại dương. Ảnh: XUÂN HUYÊN

Cá thể rùa biển được thả về lại đại dương ở đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ảnh: XUÂN HUYÊN

Đảm bảo “điểm tựa chủ quyền” trên biển

Bảo vệ chủ quyền, an ninh và an toàn trên biển tạo nền tảng để người dân, doanh nghiệp yên tâm đầu tư, sản xuất. Ở chiều ngược lại, Đại tá Trần Tiến Hải, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Gia Lai, cho rằng kinh tế biển phát triển cũng tạo thêm nguồn lực cho nhiệm vụ bảo vệ biển. Ngư dân là lực lượng hoạt động thường xuyên, liên tục trên các vùng biển.

Mỗi chuyến vươn khơi vừa mang lại giá trị kinh tế, vừa góp phần khẳng định sự hiện diện dân sự của Việt Nam trên biển. Việc hỗ trợ ngư dân khi gặp sự cố, thiên tai và duy trì các kênh liên lạc từ tàu cá đến lực lượng chức năng vì thế cần được coi trọng. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển phải bắt đầu từ việc xây dựng thế trận lòng dân.

Nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales (Australia), phân tích, hạ tầng ven biển cần hướng tới tính lưỡng dụng, phục vụ cả kinh tế và quốc phòng. Ngay từ thiết kế, các cảng nước sâu phải tính đến khả năng tiếp nhận, tiếp nhiên liệu cho tàu quân sự, tàu kiểm ngư cỡ lớn khi có tình huống khẩn cấp. Quy hoạch không gian ven biển cần kết nối chặt chẽ từ Bắc vào Nam, tạo hệ thống hậu phương kinh tế - kỹ thuật vững chắc.

Các khu kinh tế, đô thị biển và trung tâm logistics nội địa là nguồn cung ứng năng lượng, lương thực, vật tư y tế và cứu hộ kỹ thuật cho các đảo tiền tiêu. Vì vậy, cần đầu tư điện, đường, trường, trạm, nước ngọt trên các đảo; đưa dân ra định cư lâu dài kết hợp xây dựng âu tàu, trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá trên các đảo đủ điều kiện. Hạ tầng này vừa giúp ngư dân giảm chi phí, vừa phục vụ ứng cứu và quốc phòng khi phát sinh tình huống.

Ứng xử “sòng phẳng” với biển

Sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.200km, chưa kể các đảo, Việt Nam có lợi thế lớn để giao thương với thế giới. Nhưng nhắc tới biển, chúng ta vẫn thường nói đến “nơi đầu sóng ngọn gió”. Cách ví von ấy đúng với gian lao của người đi biển. Hàng ngàn năm qua, hướng ra biển đồng nghĩa với gian khổ, hiểm nguy.

Đến nay, người dân biển vẫn còn lắm nỗi niềm: cá lớn đầy khoang nhưng vẫn nghèo; mặt nước biển bao la nhưng nuôi biển còn nhiều rào cản; cảng biển nhiều nhưng “khát” hàng; du lịch biển giàu tiềm năng nhưng giá trị còn thấp…

Song, nếu nhìn biển chủ yếu qua gian khó, thách thức rồi sợ hãi bước lùi thì Việt Nam sẽ khó chuẩn bị cho những cơ hội lớn ngoài khơi. Đã đến lúc ứng xử “sòng phẳng” với biển. Muốn biển đóng góp nhiều hơn, phải đầu tư tương xứng cho biển và cho những người sống bằng nghề biển. Nghị quyết 20-NQ/TW xác lập mục tiêu chiến lược ấy; Nghị quyết 218/NQ-CP cụ thể hóa bằng chương trình hành động.

Tinh thần hướng biển phải được thể hiện trong từng quyết định phân bổ nguồn lực. Thực hiện đến nơi đến chốn hai nghị quyết sẽ mở đường để Việt Nam có những trung tâm hàng hải đủ sức cạnh tranh quốc tế, những vùng nuôi biển công nghiệp gắn với chế biến, xuất khẩu và ngành năng lượng sạch ngoài khơi.

Các tin khác