Sức sống từ các khu kinh tế biển

“Có thời điểm, các cán bộ ra tận sân bay Đà Nẵng, cầm tấm bảng “Welcome to Dung Quất” để đón từng nhà đầu tư”, ông Lê Kim Sơn, Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp Quảng Ngãi, kể với chúng tôi về nỗ lực của những thế hệ cán bộ trước đây nhằm thu hút đầu tư.

Ông Lê Kim Sơn nói, Dung Quất có lợi thế từ quyết định của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt chọn nơi đây xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của cả nước, cùng điều kiện cảng nước sâu tự nhiên. Dung Quất chọn doanh nghiệp hạt nhân để thu hút doanh nghiệp vệ tinh, dùng chung hạ tầng kỹ thuật, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu và sử dụng hiệu quả quỹ đất.

Trong đó, nhà máy Lọc dầu Dung Quất dự kiến đầu tư thêm 1,5 tỷ USD, nâng tổng vốn lên khoảng 3,5 tỷ USD, hướng tới đáp ứng 50% nhu cầu trong nước. Cùng với phát triển công nghiệp dầu khí, điện khí, mỏ Cá Voi Xanh sẽ là nguồn cung quan trọng cho Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Dung Quất.

Trong lĩnh vực thép, Hòa Phát đã đầu tư khoảng 8 tỷ USD tại Quảng Ngãi, đang triển khai dự án sản xuất thép đường ray tốc độ cao, thép bồn chứa khí hóa lỏng và thép đóng tàu, công suất khoảng 900.000 tấn/năm. Dự án dự kiến vận hành thử cuối năm 2026 hoặc quý I-2027.

Dung Quất còn có các đề xuất phát triển công nghiệp đóng tàu. HD Hyundai đã ký biên bản ghi nhớ nghiên cứu đầu tư nhà máy đóng tàu cạnh khu kinh tế. Nhà máy Đóng tàu Dung Quất cũng được định hướng nâng cấp thành trung tâm đóng tàu quy mô quốc gia.

Về vấn đề hạ tầng, ông Lê Kim Sơn phân tích cần đặt Dung Quất trong chuỗi logistics liên vùng. Ngoài đường bộ và đường ven biển, kết nối giữa cảng nước sâu Dung Quất với Cảng hàng không Chu Lai đã được quy hoạch đạt tiêu chuẩn 4E, cùng với tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam có ga hàng hóa dự kiến đặt tại khu kinh tế Chu Lai, tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường liên kết với Dung Quất.

Nơi có lợi thế tự nhiên và phù hợp với định hướng đầu tư của quốc gia cần được lựa chọn làm cảng hạt nhân, tránh để các địa phương chạy đua xây cảng nước sâu, phân tán nguồn lực.

Ông Sơn đề nghị tập trung đầu tư đầu mối lớn, kết nối các địa phương lân cận để hình thành chuỗi logistics dùng chung. Đơn cử, hạ tầng logistics khu vực cảng Chu Lai do Tập đoàn Thaco đầu tư đã được kết nối khá đồng bộ. Việc khai thác các dịch vụ kho bãi, cảng và logistics cho nhiều doanh nghiệp, địa phương sẽ giúp phát huy hạ tầng sẵn có.

Tại Gia Lai, Khu kinh tế Nhơn Hội cũng đang chuyển cách thu hút đầu tư. Ông Nguyễn Thanh Nguyên, Phó trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế Gia Lai, cho biết Nhơn Hội đã thu hút 148 dự án, tổng vốn đăng ký gần 218.000 tỷ đồng.

Nhơn Hội định hướng chuyển từ “thu hút từng dự án” sang “thu hút theo chuỗi, cụm ngành”, phát triển doanh nghiệp vệ tinh và nâng tỷ lệ tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp địa phương. Các lĩnh vực ưu tiên gồm công nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu nông, lâm sản, công nghiệp hỗ trợ và các ngành kinh tế biển có giá trị gia tăng cao.

Dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất khoảng 36.397 tỷ đồng đang khởi động thi công, hoàn thành. Ảnh: NGỌC OAI

Kinh nghiệm từ Dung Quất và Nhơn Hội cho thấy nguồn nhân lực và sinh kế người dân phải được tính ngay từ khi chuẩn bị dự án. Theo ông Lê Kim Sơn, khi xây dựng Khu kinh tế Dung Quất, phải chăm lo đời sống người dân, tổ chức tốt giải phóng mặt bằng và tạo điều kiện để họ tham gia sản xuất.

Tại xã Vạn Tường (Quảng Ngãi), trước đây người dân chủ yếu đi biển hoặc canh tác trên vùng đất cát bạc màu, thiếu nước. Ông Nguyễn Minh Hoàng, Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết thu nhập bình quân đầu người hiện đạt hơn 60 triệu đồng/năm, dự kiến đến năm 2030 đạt 80 triệu đồng/người/năm.

Các dự án thu hút khoảng 24.000-40.000 người sinh sống, làm việc, tạo việc làm ổn định cho người dân địa phương. Tuy nhiên, theo ông Lê Kim Sơn, các tập đoàn, doanh nghiệp lớn ở Dung Quất thường sử dụng nhân sự nòng cốt, chất lượng cao từ Hà Nội và TPHCM.

Quảng Ngãi vì vậy định hướng tăng kết nối doanh nghiệp với các trường đại học lớn, cơ sở đào tạo trong khu vực để đặt hàng đào tạo nhân lực.

Một góc đại dự án lọc hóa dầu gắn với chuỗi logistics tại Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi. Ảnh: NGỌC OAI

Tại Gia Lai, ông Nguyễn Thanh Nguyên cho biết Ban Quản lý sẽ phối hợp doanh nghiệp và cơ sở đào tạo nâng kỹ năng, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho lao động địa phương, nhất là trong các lĩnh vực du lịch, logistics, vận tải và dịch vụ kinh tế biển.

Thông qua liên kết với doanh nghiệp du lịch, người dân được hỗ trợ về thị trường, quảng bá, xây dựng sản phẩm và kết nối tour, đồng thời trực tiếp cung cấp dịch vụ. Mục tiêu là để người dân trực tiếp tham gia phát triển Khu kinh tế Nhơn Hội, nâng thu nhập và tăng giá trị được tạo ra trên địa bàn.

Theo ông Trần Văn Phúc, Bí thư Đảng ủy xã Phù Mỹ Đông (Gia Lai), trong quá trình phát triển khu công nghiệp Phù Mỹ và cảng nước sâu Phù Mỹ, địa phương chú trọng kết nối người dân với doanh nghiệp. Trước mắt, người dân được khuyến khích cung ứng dịch vụ ăn uống, lưu trú, vận tải, thực phẩm, vệ sinh công nghiệp cho công nhân và chuyên gia.

Một góc cảng biển Dung Quất, nơi có nhiều dự án đầu tàu về công nghiệp nặng lớn nhất miền Trung. Ảnh: NGỌC OAI

Toàn cảnh đại dự án thép Hòa Phát kết hợp cảng biển Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi) – một trong những tổ hợp sản xuất thép lớn nhất Việt Nam. Ảnh: NGỌC OAI

Lãnh đạo Nhà máy Lọc dầu Dung Quất (Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam - BSR), nhận định Việt Nam có điều kiện trở thành trung tâm trung chuyển dầu, khí và năng lượng của Đông Nam Á. Để nắm bắt cơ hội, cần phát triển logistics dầu khí biển, mở rộng hợp tác quốc tế, đồng thời đầu tư công nghệ giảm phát thải và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường.

Vận hành từ tháng 2-2009, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất hiện cung cấp khoảng 30% nguồn cung xăng dầu trong nước. Quá trình hoạt động còn hình thành đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật Việt Nam có kinh nghiệm quản lý, vận hành và bảo dưỡng các nhà máy lọc hóa dầu quy mô lớn.

Trong 7 tháng đầu năm 2026, nhà máy sản xuất 4,76 triệu tấn, tiêu thụ 4,74 triệu tấn sản phẩm. Theo định hướng của Bộ Chính trị, Chính phủ và tỉnh Quảng Ngãi, Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng quốc gia sẽ hình thành tại Khu kinh tế Dung Quất, lấy nhà máy làm hạt nhân.

Trung tâm hướng tới phát triển các chuỗi giá trị từ lọc hóa dầu, hóa chất đến LNG, điện và các dạng năng lượng mới. Lãnh đạo BSR cho rằng việc nâng cấp, mở rộng công suất cần gắn với chuyển đổi số, tự động hóa, tiếp nhận công nghệ tiên tiến và giảm phát thải.

Ở phía Nam, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TPHCM, đã trở thành hậu cứ chiến lược của ngành dầu khí từ khi tấn dầu thô đầu tiên được khai thác năm 1986. Vietsovpetro góp phần hình thành trung tâm công nghiệp dầu khí, kéo theo các ngành phụ trợ, dịch vụ kỹ thuật và vận tải biển.

Trong giai đoạn 2005-2024, doanh nghiệp mở rộng dịch vụ kỹ thuật dầu khí ra thị trường bên ngoài, tham gia nhiều dự án trọng điểm quốc gia, với tổng doanh thu gần 5 tỷ USD. Tại Cà Mau, đường ống dẫn khí dài 325km từ biển vào đất liền năm 2007 đặt nền móng cho cụm khí - điện - đạm.

Từ khi vận hành đến hết tháng 7-2025, cụm đã cung cấp 29,55 tỷ m3 khí, 118,96 tỷ kWh điện và 11,60 triệu tấn phân bón, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực quốc gia.

Tại Khánh Hòa, tháng 9-2025, tỉnh phê duyệt thành phần 1, hạng mục lấn biển, thuộc dự án Kho xăng dầu đầu nguồn kết hợp nhiên liệu bay Ba Ngòi. Dự án có tổng vốn hơn 150 tỷ đồng, quy mô công suất kho khoảng 15.000m3, hướng tới cung ứng nhiên liệu hàng không cho sân bay Cam Ranh và khu vực Nam Trung bộ.

Tỉnh còn kêu gọi đầu tư Cảng kho khí hóa lỏng Nam Vân Phong, diện tích 100ha, vốn dự kiến từ 2.300 tỷ đồng trở lên.

Giàn khoan khai thác dầu khí trên mỏ Bạch Hổ. Ảnh: TRƯỜNG SƠN

Cảng cần nguồn hàng để thu hút hãng tàu; nhà máy cần logistics thuận lợi để xuất khẩu. Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương, phân tích mối liên kết này và yêu cầu quy hoạch cảng ở quy mô liên vùng.

PHÓNG VIÊN: Thưa ông, lý do quan trọng nào khiến việc khai thác lợi thế từ kinh tế biển còn hạn chế?

Ông TRẦN THANH HẢI: Một trong những nguyên nhân nằm ở sự kết nối chưa đồng bộ giữa cảng biển, nguồn hàng, sản xuất và logistics. Logistics là một ngành có vai trò quan trọng, gắn trực tiếp với kinh tế hàng hải.

Vì vậy, muốn phát huy giá trị của biển không thể tách rời bài toán vận chuyển, lưu thông hàng hóa và kết nối các trung tâm sản xuất với thị trường. Việt Nam đã hình thành những đầu mối cảng lớn ở hai đầu đất nước, trong đó có khu vực Lạch Huyện ở TP Hải Phòng và Cái Mép - Cát Lái tại TPHCM. Các đầu mối này có khả năng tiếp nhận những tuyến vận tải trực tiếp đến các thị trường xa như châu Âu và Mỹ.

Giữa các khu vực Bắc - Trung - Nam vẫn có sự chênh lệch lớn về nguồn hàng và năng lực kết nối. Nhiều địa phương ven biển có cảng nhưng sản lượng hàng hóa chưa đủ lớn để hình thành các tuyến vận tải quốc tế trực tiếp. Tại miền Trung, nhiều cảng quy mô nhỏ, nguồn hàng hạn chế nên hiệu quả khai thác chưa cao.

Không phải cứ xây cảng ra là tàu người ta đến. Hãng tàu phải tính toán sản lượng hàng, tuyến khai thác, thời gian và chi phí. Một con tàu lớn mỗi lần cập cảng phải xử lý lượng hàng đủ lớn mới có hiệu quả. Nếu chỉ có vài chục hoặc vài trăm container, hãng tàu phải cân nhắc chi phí và quỹ thời gian.

Vì vậy, hàng hóa tại một số khu vực miền Trung hiện phải gom về các đầu mối lớn như Lạch Huyện hoặc Cái Mép - Thị Vải để kết nối với các tuyến vận tải quốc tế. Đây là thực tế xuất phát từ quy mô nguồn hàng chứ không đơn thuần do năng lực của từng cảng.

Các tàu hàng siêu trường, siêu trọng cập cảng Quy Nhơn (Gia Lai) để bốc dỡ, nhập khẩu hàng hóa. Ảnh: DŨNG NHÂN

Logistics ảnh hưởng thế nào đến thu hút đầu tư và tạo nguồn hàng cho cảng, thưa ông?

Nhà đầu tư khi lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy phải tính đến việc nhập nguyên liệu và đưa sản phẩm đến cảng để xuất khẩu. Những khu vực có hệ thống logistics thuận lợi vì thế thường có sức hút đầu tư lớn hơn. Với những ngành gắn với vùng nguyên liệu, hàng hóa buộc phải vận chuyển từ nơi sản xuất đến cảng.

Nhưng với nhiều ngành công nghiệp khác, hạ tầng logistics lại là một yếu tố quan trọng trong quyết định đầu tư. Tôi nghĩ có thể thu hút các ngành như giày da, dệt may, điện tử, chế biến gỗ và những ngành không nhất thiết phải đặt gần vùng nguyên liệu.

Khi hình thành được các cụm sản xuất, nguồn hàng sẽ dồi dào, cảng phát huy công suất và thu hút thêm các dịch vụ logistics. Vì vậy, cảng và khu công nghiệp không thể được quy hoạch như hai dự án độc lập.

Cần tổ chức đầu tư cảng biển như thế nào để tránh dàn trải, đồng thời tạo cơ hội cho các địa phương phát triển?

Nếu mỗi địa phương ven biển đều phát triển một cảng riêng mà không tính toán trong tổng thể vùng, đầu tư có thể bị dàn trải. Các cảng nằm gần nhau nhưng đều thiếu hàng sẽ làm phân tán nguồn lực.

Vì vậy, quy hoạch phải được nhìn ở quy mô liên vùng. Những nơi có nguồn hàng lớn có thể đóng vai trò trung tâm. Các địa phương nằm sâu hơn trong nội địa hoặc có nguồn hàng nhỏ hơn có thể kết nối bằng đường bộ, đường sắt hoặc đường thủy, thay vì cùng đầu tư những cảng có chức năng tương tự nhau.

Về mặt kinh tế, việc tập trung hàng hóa về những đầu mối lớn là hợp lý. Tuy nhiên, nếu chỉ tập trung vào Hải Phòng và TPHCM thì sẽ khó bảo đảm mục tiêu phát triển hài hòa. Việc này cần được tính toán trong quy hoạch tổng thể, nhất là đối với miền Trung, nơi có lợi thế về vị trí địa lý và khả năng kết nối hành lang kinh tế từ nội địa ra biển.

Để khai thác tốt hơn nguồn lực biển, vấn đề không chỉ là xây thêm cảng hay mở rộng hạ tầng. Cốt lõi là hình thành được hệ sinh thái có sự liên kết giữa sản xuất, nguồn hàng, cảng biển và logistics. Khi đồng bộ, lợi thế sẽ chuyển thành giá trị kinh tế và tạo động lực phát triển cho các địa phương.

Hướng dẫn tàu hàng cập cảng Mỹ Thủy (Quảng Trị) sau 2 năm triển khai xây dựng bến số 1 và bến số 2. Ảnh: VĂN THẮNG

Giải pháp nào khắc phục tình trạng có cảng nhưng thiếu hàng hiện nay?

Tôi nghĩ có thể thu hút các ngành như giày da, dệt may, điện tử, chế biến gỗ và những ngành không nhất thiết phải đặt gần vùng nguyên liệu. Khi hình thành được các cụm sản xuất, nguồn hàng sẽ dồi dào, cảng phát huy công suất và thu hút thêm các dịch vụ logistics.

Tuy nhiên, thu hút sản xuất về một địa phương lại quay trở lại bài toán logistics. Nhà đầu tư phải tính toán chi phí nhập nguyên liệu, vận chuyển sản phẩm và khả năng kết nối với các tuyến hàng hải quốc tế. Vì vậy, cảng và khu công nghiệp không thể được quy hoạch như hai dự án độc lập.

Hãy nhìn vào trường hợp cảng Mỹ Thủy ở Quảng Trị. Đây là một quyết định đầu tư có tính kỳ vọng, trong bối cảnh nguồn hàng tại chỗ của Quảng Trị trước đây chưa lớn. Nếu cảng phát huy được vai trò mở cửa ra biển, hàng hóa từ Lào, Thái Lan qua hành lang kinh tế Đông - Tây thì có thể được kết nối với hệ thống vận tải biển.

Đồng thời, hạ tầng cảng có thể góp phần tạo điều kiện thu hút thêm các dự án sản xuất, công nghiệp vào khu vực. Điều này cho thấy bài toán phát triển kinh tế biển không phải lúc nào cũng theo một chiều “có hàng rồi mới làm cảng”. Trong một số trường hợp, phải đầu tư hạ tầng trước để thu hút sản xuất. Nhưng khi lựa chọn hướng đi này, cần tính toán kỹ nguồn hàng, vị trí địa kinh tế, khả năng kết nối vùng và thị trường để hạn chế rủi ro đầu tư.

Xin cám ơn ông.

Khi quy hoạch cảng nước sâu Mỹ Thủy (Quảng Trị), lãnh đạo tỉnh không chỉ nhìn Mỹ Thủy là cảng của riêng tỉnh, mà phải nhìn trong tổng thể các tuyến đường vận tải hàng hóa, ở các nước lân cận trong vùng và kể cả nhìn lên dãy Trường Sơn để tính toán phương án tối ưu.

Ông Nguyễn Đức Chính, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị, kể với chúng tôi về tầm nhìn ấy từ những ngày đầu theo sát dự án. Mỹ Thủy hiện vừa khai thác, vừa tiếp tục xây dựng, hướng tới vai trò cửa ngõ giao thương trên Hành lang kinh tế Đông - Tây.

Theo ông Nguyễn Xuân Dũng, Phó Tổng Giám đốc Thường trực Công ty CP Liên doanh cảng quốc tế Mỹ Thủy, cảng là điểm đầu hành lang kết nối Quảng Trị với Lào, Thái Lan, Myanmar và ngược lại. Dự án có quy mô 10 bến, tổng vốn khoảng 15.000 tỷ đồng, hướng tới tiếp nhận tàu đến 100.000 DWT.

Cảng phục vụ các cơ sở công nghiệp trong Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị và trên địa bàn tỉnh, đồng thời thu hút hàng quá cảnh từ Lào, Đông Bắc Thái Lan. Doanh nghiệp định hướng nghiên cứu mở rộng Mỹ Thủy thành cảng đầu mối, cảng trung chuyển tầm cỡ quốc tế; phối hợp tỉnh nghiên cứu, quy hoạch trung tâm logistics cấp vùng và khu thương mại tự do gắn với cảng.

ĐỨC HIỂN - NGỌC OAI - VĂN THẮNG - ĐỖ THIỆN - PHÚC HẬU - Trình bày: HỮU VI - MINH THƯ

Các tin khác