Tư duy quản trị mới đánh thức tiềm năng biển

(ĐTTCO) - Việt Nam nằm bên Biển Đông, trên tuyến hàng hải kết nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương; bờ biển có nhiều vũng, vịnh thuận lợi cho phát triển cảng. Tuy nhiên, kinh tế biển vẫn chưa phát triển tương xứng, chưa chuyển thành giá trị kinh tế.

Tư duy quản trị mới đánh thức tiềm năng biển

Khó khăn về cảng, đánh bắt, nuôi trồng…

Trước hết, hệ thống cảng biển Việt Nam hiện đối mặt với nhiều hạn chế lớn như thiếu các tuyến đường cao tốc, đường sắt chuyên dụng và vận tải thủy nội địa kết nối trực tiếp đến các cảng lớn, dẫn đến ách tắc và chi phí logistics cao; luồng tàu bị bồi lắng giới hạn trọng tải tàu lớn; chưa giảm giá dịch vụ bằng cách áp dụng các giải pháp công nghệ nên lợi nhuận thấp và chưa tăng được sức cạnh tranh; tốc độ chuyển đổi số và phát triển cảng xanh còn chậm nên cũng chưa tăng được sức cạnh tranh. Số lượng cảng chuyên dụng cho tàu khách còn ít.

Dù Chính phủ và nhiều bộ, ngành vào cuộc quyết liệt, tình hình khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) đã được giải quyết đáng kể, nhưng đến nay gần 10 năm vẫn chưa xóa được thẻ vàng EC với thủy sản Việt Nam.

Trong khi đó, công tác bảo tồn biển chưa đạt được các mục tiêu đặt ra. Đến cuối năm 2024, mới có 11 khu bảo tồn biển với tổng diện tích đạt khoảng 0,185% diện tích vùng biển tự nhiên của Việt Nam được thành lập và vận hành, còn rất xa mục tiêu 6% diện tích vùng biển Việt Nam được bảo tồn.

Theo báo cáo của Cục Thủy sản và Kiểm ngư hồi tháng 4-2026, hệ thống bảo tồn biển Việt Nam được quy hoạch với tầm nhìn chiến lược đến năm 2030, bao gồm 27 khu bảo tồn trong đó có 11 khu bảo tồn cấp quốc gia và 16 khu bảo tồn cấp tỉnh.

Tổng diện tích khoanh vùng bảo tồn đạt 463.587ha, tương đương 0,463% diện tích vùng biển quốc gia, nhưng đến nay chỉ mới triển khai được 215.191ha, tức chỉ khoảng 0,215% diện tích biển. Do chưa bảo tồn biển tốt, chưa quản lý tốt ngành khai thác thủy sản nên nguồn lợi thủy sản bị suy giảm, làm giảm cả sản lượng lẫn giá trị kinh tế. Ở khía cạnh khác, việc áp dụng các công nghệ cao vào nuôi trồng thủy sản còn hạn chế nên sản lượng và doanh thu nuôi trồng thủy sản chưa cao.

Thách thức với du lịch biển

Bên cạnh đó, nhiều địa điểm có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch và nghỉ dưỡng biển. Tuy nhiên, do chưa có quy hoạch không gian hoặc quy hoạch không gian chưa dựa trên phân vùng chức năng sử dụng biển và vùng bờ biển nên nhiều dải đất sát biển với các bãi cát đẹp vẫn bị các doanh nghiệp du lịch, nghỉ dưỡng tư nhân sử dụng kinh doanh theo kiểu tự phát. Việc này làm mất cảnh quan chung, khiến người dân, du khách khó tiếp cận, làm giảm hiệu suất sử dụng bãi biển.

Vấn đề xử lý nước thải, rác thải, đặc biệt là rác thải nhựa, tại một số địa phương và khu du lịch chưa tốt, dẫn tới làm giảm sức hấp dẫn du lịch. Rất nhiều khu du lịch không có hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung nên nước thải từ các cơ sở du lịch, nghỉ dưỡng chưa được xử lý đạt chuẩn đang tự do chảy xuống biển, gây ô nhiễm biển và ảnh hưởng tới du lịch.

Nhiều nơi, hệ sinh thái vùng bờ biển bị tàn phá và suy thoái nghiêm trọng, ảnh hưởng tới du lịch sinh thái. Các hình thức du lịch vẫn còn đơn điệu, thiếu giải pháp thu hút khách, rất ít địa phương có khả năng khai thác thành quả của bảo tồn các hệ sinh thái biển để phục vụ du lịch.

Các tàu hàng siêu trường, siêu trọng cập cảng Quy Nhơn (Gia Lai) để bốc dỡ, nhập khẩu hàng hóa. Ảnh: DŨNG NHÂN

Nhiều hạn chế khác

Nhận thức về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo của người dân, thậm chí là của cán bộ nhà nước còn hạn chế. Từ đó, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, chưa giúp được nhiều trong bảo vệ, bảo tồn và khai thác hợp lý, hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là các hệ sinh thái và đa dạng sinh học, cũng như chưa bảo vệ tốt được môi trường biển.

Mặc dù quy hoạch không gian biển quốc gia đã được ban hành, nhiều tỉnh, thành phố có biển chưa cụ thể hóa quy hoạch không gian biển quốc gia vào quy hoạch tỉnh, dẫn tới chưa quản lý và phát triển tối ưu không gian biển phục vụ phát triển kinh tế biển.

Một dạng năng lượng tái tạo rất quan trọng của biển Việt Nam cần được quản lý và khai thác hợp lý là điện gió ngoài khơi. Tuy nhiên, do điện gió ngoài khơi biến động mạnh theo thời gian nên muốn khai thác phải có hạ tầng lưu trữ và truyền tải hiệu quả. Hạ tầng lưu trữ và truyền tải của ngành điện Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu.

Nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực biển và hải đảo cần đầu tư rất lớn cả về cơ sở hạ tầng lẫn nguồn nhân lực. Song, trong những năm qua nguồn đầu tư này khá hạn hẹp. Các ngành nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực biển và hải đảo cũng như nhiều ngành khoa học, công nghệ và kinh tế biển đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng rất cao nhưng thực tế lại có thu nhập rất thấp, thậm chí thấp hơn mức trung bình của cả nước, trong khi cơ hội việc làm lại ít nên rất khó thu hút được những người đạt yêu cầu.

PGS-TS VŨ THANH CA Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu biển và hải đảo, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Vươn tầm từ biển với 2 nghị quyết lớn

Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh và Nghị quyết số 218/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp tháo gỡ những nút thắt tồn tại nhiều năm, đưa tiềm năng biển thực sự chuyển hóa thành nguồn lực cho đất nước. Để tạo đột phá theo những quan điểm và mục tiêu của những nghị quyết này, cần đầu tư nguồn lực tương xứng.

Thứ nhất, rà soát, điều chỉnh Quy hoạch không gian biển quốc gia trên cơ sở phân vùng chức năng chi tiết các vùng biển. Sau đó, sửa đổi quy hoạch tỉnh của các tỉnh, thành có biển bằng cách bổ sung quy hoạch không gian vùng biển thuộc thẩm quyền quản lý.

Thứ hai, nghiên cứu chỉnh sửa và bổ sung Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo theo những quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết 20.

Thứ ba, xây dựng mô hình quản lý tổng hợp biển, vùng bờ biển và hải đảo, đảm bảo sự thống nhất về chính sách, pháp luật giữa các cấp chính quyền và sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành và các đối tác liên quan khác.

Thứ tư, đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế biển, thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai. Thứ năm, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái, đa dạng sinh học biển. Cuối cùng, đầu tư phát triển nguồn nhân lực biển, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và số hóa đại dương.

ĐỖ THIỆN ghi

Các tin khác