Khơi dậy nguồn lực từ đất đai bỏ hoang

(ĐTTCO) - Khi đất không còn bị giữ lại chỉ để chờ tăng giá, dòng vốn sẽ được lưu chuyển và nguồn lực mới thực sự được đánh thức.

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa XIV ngày 29-7, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đã trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Trong đó, định hướng “nghiên cứu áp dụng mức thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng” thể hiện một quan điểm rõ ràng, nhất quán: đất phải được đưa vào khai thác, không thể tiếp tục bị găm giữ chỉ để chờ tăng giá.

Chủ trương này đi thẳng vào một nghịch lý kéo dài trên thị trường bất động sản: Trong khi nhiều người lao động chật vật tìm chỗ ở, doanh nghiệp khó tiếp cận quỹ đất để đầu tư sản xuất, không ít khu đất đã được giao, cho thuê vẫn chậm đưa vào sử dụng thì có nơi đất bị bỏ trống trong thời gian dài; có dự án được nắm giữ chủ yếu để chờ giá tăng rồi chuyển nhượng, hưởng chênh lệch. Nguồn lực đất đai vì thế bị “đóng băng” ở nhiều nơi, nhiều thời điểm.

Đất đai không thể tự sinh thêm. Mỗi diện tích đất bị bỏ hoang đồng nghĩa với một phần cơ hội phát triển bị bỏ lỡ. Khi đất được xem là hàng hóa tích trữ hơn là tư liệu phục vụ sản xuất và đời sống, hệ quả không chỉ là lãng phí tài nguyên, thất thu ngân sách mà còn làm tăng chi phí đầu tư, thu hẹp cơ hội tiếp cận nhà ở và khiến thị trường phát triển thiếu lành mạnh.

Áp dụng mức thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang không đơn thuần nhằm tăng thu ngân sách, mà hướng tới mục tiêu quan trọng hơn là thúc đẩy đất được đưa vào sử dụng. Khi chi phí nắm giữ tăng, những trường hợp ôm đất chờ tăng giá sẽ phải cân nhắc triển khai dự án, chuyển nhượng cho nhà đầu tư có năng lực hoặc chấp nhận nghĩa vụ tài chính cao hơn.

Nhờ đó, nguồn lực đất đai có cơ hội lưu thông thay vì tiếp tục bị bỏ phí. Dẫu vậy, thuế không phải là “chiếc đũa thần”. Muốn chính sách phát huy hiệu quả, trước hết phải xác định đúng đối tượng.

Thế nào là đất bỏ hoang? Một khu đất đang chờ hoàn thiện thủ tục pháp lý có bị xem là bỏ hoang? Dự án chậm tiến độ do vướng giải phóng mặt bằng có phải chịu mức thuế cao? Cùng là chậm đưa đất vào sử dụng, nhưng nguyên nhân có thể rất khác nhau.

Bởi vậy, chính sách thuế phải dựa trên các tiêu chí rõ ràng về thời hạn sử dụng, tiến độ được phê duyệt, mức độ triển khai và nguyên nhân chậm trễ. Cần phân biệt trường hợp cố tình đầu cơ, găm giữ đất với dự án bị ách tắc do thủ tục, quy hoạch hoặc giải phóng mặt bằng.

Thực tiễn tại TPHCM cho thấy, khi các điểm nghẽn được tháo gỡ kịp thời, nguồn lực đất đai có thể tạo ra sức bật rất lớn. Đầu tháng 6-2026, UBND TPHCM thông tin thành phố đã tháo gỡ hoặc có hướng xử lý đối với 838 công trình, dự án và khu đất tồn đọng, qua đó khơi thông hơn 206.000 tỷ đồng vốn đầu tư cùng gần 17.000ha đất.

Kết quả này cho thấy không phải mọi khu đất chậm đưa vào sử dụng đều bắt nguồn từ đầu cơ hoặc thiếu năng lực đầu tư. Vì vậy, đánh thuế đất bỏ hoang phải đi cùng với việc đẩy nhanh giải quyết hồ sơ, tháo gỡ vướng mắc, đồng thời làm rõ trách nhiệm của chủ đầu tư và cơ quan quản lý.

Cùng với chính sách thuế, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất là yêu cầu bắt buộc. Tình trạng sử dụng đất, quy hoạch, pháp lý dự án, nghĩa vụ tài chính và giao dịch phải được số hóa, công khai, liên thông. Đây là nền tảng để xác định đúng đối tượng, hạn chế tình trạng né tránh nghĩa vụ và bảo đảm chính sách được thực thi công bằng.

Đất đai chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi được đưa vào khai thác. Một chính sách thuế đúng đối tượng, dựa trên dữ liệu minh bạch và đi cùng việc tháo gỡ vướng mắc thể chế sẽ góp phần hạn chế đầu cơ, khơi thông quỹ đất cho sản xuất, nhà ở và làm lành mạnh thị trường bất động sản. Khi đất không còn bị giữ lại chỉ để chờ tăng giá, dòng vốn sẽ được lưu chuyển và nguồn lực mới thực sự được đánh thức.

Các tin khác