Để tiến gần mục tiêu tăng trưởng 2 con số, cần đồng thời phát huy các động lực trước mắt và tạo chuyển biến về năng suất, hiệu quả, chất lượng tăng trưởng.
PHÓNG VIÊN: - Số liệu 8 tháng cho thấy kinh tế tiếp tục duy trì đà tích cực. Theo Cục trưởng, những tháng cuối năm cần hội đủ những điều kiệngì để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số?
TS. NGUYỄN THỊ HƯƠNG: - Kết quả ước tính các chỉ tiêu chủ yếu 8 tháng cho thấy nhiều động lực tăng trưởng tiếp tục duy trì tích cực. Chỉ số sản xuất
công nghiệp tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước; tổng mức bán lẻ hàng hóa và
doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,3%; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa
đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7%.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tăng 18,5%; tổng vốn FDI đăng ký đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4%. Những kết quả này tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng những tháng cuối năm.
Để đạt tốc độ tăng trưởng cao, cần tiếp tục phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng đang còn nhiều dư địa. Trong đó, đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công, đưa nhanh các năng lực sản xuất mới vào hoạt động, thúc đẩy sản xuất công nghiệp, xây dựng, tiêu dùng và dịch vụ là những yếu tố quan trọng có thể tạo thêm sức bật cho tăng trưởng những tháng cuối năm.
Điều cần lưu ý là tăng trưởng cao không chỉ được nhìn ở tốc độ, mà phải nhìn nhận ở cả chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Thực tế sức mua thực tế vẫn chưa tăng mạnh, khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng nếu loại trừ yếu tố giá chỉ tăng 7,6% (cùng kỳ năm trước tăng 7,5%). Giải ngân đầu tư công mới thực hiện 50,5% kế hoạch năm, nghĩa là khối lượng công việc còn rất lớn trong những tháng cuối năm.
- Theo bà cần ưu tiên điều kiện nền tảng nào để không chỉ đạt tăng trưởng cao trong năm 2026 mà còn duy trì trong nhiều năm tới?
- Trước tiên, tăng trưởng cao chỉ có thể duy trì khi được đặt trên nền tảng vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát và các cân đối lớn được bảo đảm. Đồng thời, nền kinh tế cần có khả năng thích ứng tốt hơn trước những biến động từ bên ngoài và các rủi ro mới phát sinh.
Thứ hai, tiếp tục tạo đột phá về thể chế và nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực. Vấn đề không chỉ là huy động thêm vốn, đất đai hay lao động, mà quan trọng hơn là đưa nguồn lực đến những khu vực, ngành và lĩnh vực có khả năng tạo năng suất và giá trị gia tăng cao hơn.
Thứ ba là đưa năng suất lao động, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực ngày càng quan trọng của tăng trưởng. Khi dư địa tăng trưởng dựa vào mở rộng vốn và lao động dần thu hẹp, nâng cao năng suất lao động phải trở thành yếu tố quyết định khả năng duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn của nền kinh tế.
- Số doanh nghiệp (DN) thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng mạnh, nhưng số DN giải thể cũng vẫn ở mức cao. Những con số này phản ánh điều gì về niềm tin và sức chống chịu của khu vực tư nhân?
- Số liệu 8 tháng cho thấy bức tranh DN có cả những tín hiệu tích cực và những vấn đề cần lưu ý. Cả nước có gần 206.400 DN thành lập mới và quay trở lại hoạt động (giảm 1,4% so); vốn đăng ký bình quân một DN thành lập mới đạt 12,4 tỷ đồng (tăng 26,4%); hơn 88.000 DN tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và hơn 40.800 DN hoàn tất thủ tục giải thể (tăng 125,5%).
Những số liệu đó cho thấy thị trường vẫn đang mở ra cơ hội và niềm tin kinh doanh tiếp tục được duy trì. Số liệu cũng cho thấy các DN mới thành lập đi vào hoạt động có xu hướng chuẩn bị tốt hơn về năng lực tài chính, phương án kinh doanh và khả năng thích ứng với thị trường.
Nhưng ở chiều ngược lại, số DN tạm ngừng hoạt động và giải thể còn ở mức cao cho thấy sức chống chịu của DN chưa đồng đều. Một bộ phận DN vẫn đang chịu nhiều sức ép từ chi phí sản xuất, biến động thị trường và quá trình thích ứng với những yêu cầu mới của nền kinh tế.
- Vậy làm sao để những chuyển động tích cực của DN thực sự tạo ra đột phá và giảm thiểu số DN rời thị trường?
- Để những chuyển động tích cực về dòng vốn và số lượng DN gia nhập thị trường thực sự tạo ra đột phá, trở thành động lực tăng trưởng trong giai đoạn 2026-2030, khu vực DN tư nhân rất cần những điều kiện hỗ trợ mang tính thực chất.
Thứ nhất là cải cách thủ tục hành chính thực chất. Đây là điều kiện tiên quyết và quan trọng nhất. Thứ hai là khơi thông dòng vốn, thị trường đầu ra và kiểm soát chi phí đầu vào.
Thứ ba là thúc đẩy chuyển đổi số và xanh hóa, khuyến khích DN ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo vào quản trị, phân tích thị trường để tiết giảm chi phí và đáp ứng các yêu cầu mới của thị trường.
Thứ tư là tăng cường liên kết chuỗi giá trị và có phát triển công nghiệp hỗ trợ. Trong đó tạo cơ chế kết nối thực chất giữa DN tư nhân trong nước với DN FDI, Sự liên kết này sẽ giúp khối tư nhân nội địa tiếp cận công nghệ mới, nâng cấp trình độ quản trị và từng bước tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải từng bước chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng mới, dựa trên nền tảng năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng cao. Để thực hiện bước chuyển dịch này, trọng tâm hành động không phải là thay thế hoàn toàn các động lực hiện có, mà là nâng cao chất lượng và hiệu quả và sức lan tỏa của các động lực truyền thống.
Điều này đòi hỏi nâng cao năng suất lao động, làm chủ và đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để làm nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
- Xin cảm ơn bà
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn, mà quan trọng là nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, để mỗi đơn vị vốn, lao động, đất đai và công nghệ tạo ra nhiều giá trị hơn. Đó mới là nền tảng để tăng trưởng cao có thể được duy trì trong nhiều năm tới.