Từ cuộc chiến hàng giả đến khát vọng thương hiệu Việt

(ĐTTCO) - Chống hàng giả, giảm rào cản kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (DN) đầu tư dài hạn là những yêu cầu cần thiết để thương hiệu Việt đứng vững ở thị trường trong nước, từng bước vươn ra thế giới.

Chật vật giữ thương hiệu

Đặt 10 chiếc nón bảo hiểm lên bàn, ông Nguyễn Ngọc Tý, Giám đốc điều hành Công ty Thời trang Nón Sơn, hỏi chúng tôi: “Có phân biệt được đâu là hàng thật, đâu là hàng giả”?

Thoạt nhìn 2 chiếc nón màu hồng pastel có logo, nút khóa, thậm chí cả tem hợp quy giống nhau đến khó tin. Thế nhưng, khi thử nghiệm bằng cách thả quả tạ 7kg từ độ cao 2m, chiếc nón thật vẫn nguyên vẹn, còn chiếc nón giả vỡ tan.

Ảnh 2 - tại cy Nón Sơn.jpg
Sản phẩm nón thật, nón giả đặt cùng trên bàn để thử nghiệm. Ảnh: Hoa Lài

Theo ông Tý, hàng giả không chỉ đe dọa an toàn người sử dụng, mà còn làm tổn hại uy tín DN. “Với hơn 30 năm có mặt trên thị trường, cũng từng ấy thời gian chúng tôi phải chiến đấu với hàng giả”- ông nói. Trong khi đó, việc đổi mới công nghệ, mẫu mã hay nâng chất lượng dịch vụ đều cần nguồn lực lớn, không phải DN nào cũng đủ sức theo đuổi.

Ông Lư Nguyễn Xuân Vũ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Xuân Nguyên, cho biết DN từng bị làm giả, làm nhái tên thương hiệu thành “Xuân Nguyễn”. Nhân viên phải gửi thông báo đến từng khách hàng để hướng dẫn nhận diện, đồng thời áp dụng công nghệ chống giả. Tuy nhiên, khi phát hiện, đơn vị vi phạm đã tẩu tán, khiến việc xử lý gặp khó khăn.

Theo ông Vũ, hàng giả quy mô lớn không chỉ gây thiệt hại cho DN, mà còn ảnh hưởng đến môi trường đầu tư. Nếu việc kiểm tra, xử lý thiếu thường xuyên, hàng giả có thể bùng phát trở lại.

Ở góc độ khác, ông Phan Minh Thông, Chủ tịch Tập đoàn Phúc Sinh, trăn trở trước tình trạng cạnh tranh không bình đẳng trên thị trường cà phê nội địa. Theo ông, DN sản xuất cà phê nguyên chất phải gánh chi phí lớn, trong khi những sản phẩm pha trộn, kém chất lượng vẫn có thể được bán với giá thấp.

“Nếu không làm tốt ngay từ sân nhà, DN rất khó tạo dựng nền tảng vững chắc để vươn ra thế giới. Do vậy cần kiểm soát chặt chất lượng hàng hóa, tạo động lực để DN đầu tư công nghệ và quy trình sản xuất sạch” - ông Thông nhận định.

Chống hàng giả phải thường xuyên

Theo PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách, Đại học Quốc gia TPHCM, đến hết tháng 9, lực lượng chức năng cả nước đã phát hiện, bắt giữ và xử lý 39.716 vụ vi phạm, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2025; số vụ liên quan đến hàng giả, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tăng hơn 180%.

Trên môi trường thương mại điện tử, hơn 9.000 sản phẩm vi phạm đã bị gỡ bỏ và hơn 2.000 gian hàng có dấu hiệu vi phạm bị ngăn chặn trong 6 tháng đầu năm. Cùng với Luật Thương mại điện tử có hiệu lực từ ngày 1-7, những chuyển động này cho thấy kỷ cương thị trường đang được siết chặt hơn.

DN chân chính vẫn phải dành nguồn lực lớn để tự bảo vệ mình. Trong khi việc gây dựng chất lượng, uy tín và thương hiệu đòi hỏi đầu tư dài hạn, người làm giả có thể chiếm dụng những giá trị đó với chi phí thấp. Vì vậy, theo PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, cần đẩy mạnh định danh người bán, truy xuất nguồn gốc, liên thông dữ liệu giữa nền tảng thương mại điện tử, thanh toán, logistics và thuế; đồng thời giảm chi phí bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho DN.

Ông Nguyễn Ngọc Tý kiến nghị, cuộc chiến chống hàng giả cần được duy trì thường xuyên, tránh tình trạng “nóng rồi nguội”. Đặc biệt, thương mại điện tử và livestream bán hàng là những mặt trận mới, cần được kiểm soát từ khâu đăng ký, đi cùng chế tài nghiêm và tuyên truyền để người tiêu dùng hình thành thói quen kiểm tra nguồn gốc sản phẩm.

Trợ lực để DN vươn xa

Theo ông Lư Nguyễn Xuân Vũ, DN cần những hỗ trợ cụ thể để đưa thương hiệu ra thị trường quốc tế. Trước hết là thông tin đáng tin cậy về nhu cầu và tiêu chuẩn của từng thị trường, từng nhóm sản phẩm; tiếp đến là khả năng tiếp cận công nghệ, vốn vay phù hợp và vùng nguyên liệu ổn định, đáp ứng yêu cầu chất lượng lâu dài.

Ảnh 1 - Tập đoàn Phúc Sinh.jpg
Phúc Sinh chinh phục hơn 100 quốc gia nhưng vẫn “trầy trật” trên sân nhà vì hàng kém chất lượng. Ảnh doanh nghiệp cung cấp

Cùng với đó, môi trường kinh doanh cần minh bạch hơn về thông tin, quy trình và hồ sơ để giảm chi phí cho doanh nghiệp. Việc xử lý sai phạm cũng cần phân biệt rõ bản chất, mức độ và yếu tố cố ý, qua đó tạo sự yên tâm cho DN đầu tư, mở rộng sản xuất.

PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình cho rằng, một trong những trở ngại lớn là khoảng cách giữa chính sách và khả năng tiếp cận thực tế của DN. Dẫn khảo sát DN của VCCI năm 2025, ông cho biết 75,5% DN nói không thể vay vốn nếu thiếu tài sản bảo đảm; chỉ khoảng 6-8% DN có thể thường xuyên dự đoán được những thay đổi chính sách.

Hiện chi phí thể chế thể hiện qua thủ tục, thời gian, điều kiện tiếp cận và sự bất định của chính sách. Khi phải phân tán nguồn lực cho các chi phí này, DN sẽ có ít dư địa hơn để đầu tư vào công nghệ, tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ và thị trường. Tuy nhiên, hỗ trợ từ bên ngoài chỉ có thể phát huy hiệu quả khi DN chủ động nâng năng lực cạnh tranh.

Theo PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, muốn ra biển lớn, DN Việt cần chuyển từ tư duy bán hàng sang tích lũy tài sản thương hiệu; chú trọng chất lượng ổn định, tiêu chuẩn quốc tế, truy xuất nguồn gốc và bảo hộ sở hữu trí tuệ từ sớm. DN cũng cần từng bước nâng vị trí trong chuỗi giá trị, từ gia công sang làm chủ thiết kế, thương hiệu và thị trường.

‘Thay vì có sản phẩm rồi mới tìm nơi tiêu thụ, cần nghiên cứu nhu cầu để định vị sản phẩm ngay từ đầu. Chính sách có thể mở đường ra thị trường quốc tế, nhưng vị thế của thương hiệu Việt phải được DN tự tạo dựng bằng năng lực cạnh tranh”, PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, nhấn mạnh.

Các tin khác