Cơ hội đang bị bỏ qua

Cứ sau mỗi thông tin về hàng hóa Trung Quốc không đảm bảo, người tiêu dùng quay lưng, những tưởng DN Việt Nam có thể nắm lấy cơ hội mở rộng thị phần. Song trên thực tế, mỗi lần như vậy lại có thêm 1 loại hàng hóa Trung Quốc đội lốt “made in Vietnam”, còn DN Việt tiếp tục mệt nhoài.

Cứ sau mỗi thông tin về hàng hóa Trung Quốc không đảm bảo, người tiêu dùng quay lưng, những tưởng DN Việt Nam có thể nắm lấy cơ hội mở rộng thị phần. Song trên thực tế, mỗi lần như vậy lại có thêm 1 loại hàng hóa Trung Quốc đội lốt “made in Vietnam”, còn DN Việt tiếp tục mệt nhoài.  

Loạn “made in Vietnam”

Mùa Trung thu năm nay, khi những thông tin lồng đèn nhựa xuất xứ Trung Quốc chứa chất gây ung thư được đăng tải rộng rãi, nhiều bậc cha mẹ đã cẩn thận chọn lựa cho con mình những sản phẩm đồ chơi “made in Vietnam”.

2 tháng gần đây, trước những thông tin áo ngực Trung Quốc có chất gây ung thư, hàng “made in Vietnam” lại có cơ hội lên ngôi. Và hiện nay từ chợ sỉ cho đến các cửa hàng bán lẻ, người tiêu dùng đều được giới thiệu mua những sản phẩm “made in Vietnam”.

Từ cái tăm, đôi đũa đến quần áo, túi xách… tất cả đều được gắn mác sản xuất tại Việt Nam. Thoạt nghe, có vẻ hợp lý và đáng mừng cho DN trong nước. Song, nếu ngẫm nghĩ cho thấu đáo mới thấy có sự mâu thuẫn.

Áo len bị cắt mác nham nhở phần “made in”.

Áo len bị cắt mác nham nhở phần “made in”.

Hàng Việt xưa nay vẫn than khó vào các kênh phân phối truyền thống, các chợ nổi tiếng như Đồng Xuân (Hà Nội), chợ Rồng (Nam Định), Đông Ba (Huế), chợ Hàn (Đà Nẵng), Bến Thành (TPHCM)… Bởi những chợ này lâu nay là lãnh địa của hàng Trung Quốc giá rẻ.

Nhưng nay các tiểu thương sẵn sàng bỏ những lô hàng Trung Quốc đang bán (vì hàng này vốn không được trả lại) và nhập hàng Việt Nam. Vì sao lại có chuyện này? Câu trả lời là hàng hóa Trung Quốc đã được “hô biến” thành hàng “made in Vietnam”. Nhiều người bán còn thay những nhãn mác có tên nhà sản xuất cụ thể vì người tiêu dùng bây giờ rất thông minh.

Nếu không có tên nhà sản xuất mà chỉ có cái mác “made in Vietnam” chưa chắc đã đánh lừa được. Ông Nguyễn Thanh, chủ cơ sở sản xuất quần áo trẻ em Thiên Thanh ở quận 6, TPHCM, cho biết nhiều loại hàng may mặc của Trung Quốc được người bán gắn mác tên một công ty do họ tự đặt, tự nghĩ ra.

Cuộc chiến với các DN ảo đang khiến các DN Việt Nam mang thêm một gánh nặng mới bên cạnh nạn hàng giả, hàng nhái. “Ngang nhiên hơn là hàng của DN ảo, hàng giả, hàng nhái bây giờ cũng có giá ngang với hàng Việt Nam để đánh vào tâm lý người mua. Vì người ta vẫn quen suy nghĩ hàng rẻ là hàng Trung Quốc” - ông Nguyễn Mộng Hùng, Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chia sẻ.

Trong khi DN tỏ ra chán nản vì phải tự bơi trong cuộc chiến này, các cơ quan chức năng lại cho rằng DN chưa có ý thức phòng chống hàng giả, hàng nhái. Trước thông tin chỉ 10% DN có ý thức phòng chống hàng giả, hàng nhái, còn 90% DN vẫn trông chờ vào cơ quan chức năng, nhiều DN tỏ ra không đồng tình. Nhưng đó là câu chuyện trong nước còn khi ra thế giới, trước thực tế nhiều nước đã nói không với hàng Trung Quốc thì cơ hội cho hàng Việt Nam sẽ ra sao?

Cơ hội  chưa thuộc về Việt Nam

Đó là khẳng định của ông Nguyễn Quốc Hùng, Giám đốc Công ty Mỹ nghệ Kim Bôi. Thực tế cũng đang chứng minh lời ông Hùng. Hiện châu Âu là khu vực quay lưng với hàng Trung Quốc nhiều nhất. Hồi đầu tháng 9 vừa qua, châu Âu đã tổ chức một chiến dịch khuyến cáo người dân không dùng đồ chơi của Trung Quốc để tránh nguy hiểm cho sức khỏe.

Đây không phải lần đầu tiên châu Âu tẩy chay hàng Trung Quốc, trước đó khu vực này cũng từng bày tỏ sự e ngại với các mặt hàng như quần áo, thực phẩm đến từ đất nước đông dân nhất thế giới này. Thế nhưng, cho đến nay tại khu vực này tình hình xuất khẩu của hàng Việt vẫn giậm chân tại chỗ.

Không chỉ châu Âu mà tại Hoa Kỳ, Ấn Độ, châu Phi và cả một số nước châu Á cũng đang có chiến dịch quay lưng với hàng Trung Quốc. Cơ hội cho DN Việt Nam vẫn còn nhiều, nhưng quan trọng là các DN nắm bắt như thế nào. Hiện nay, để đảm bảo chất lượng cũng như chống việc bán phá giá khi xuất khẩu, các hiệp hội điều, cà phê ca cao, chế biến và xuất khẩu thủy sản muốn đưa các ngành này vào kinh doanh có điều kiện.

Đi đầu là Hiệp hội Điều đã gửi lên các cơ quan chức năng đề xuất chỉ những DN nào có công suất chế biến hạt điều từ 2.500 tấn/năm trở lên mới được cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu. Nếu đề xuất được thông qua, khoảng 50% (tương đương 150) DN sẽ phải ngưng xuất khẩu. Nhưng hiệp hội còn muốn trong các năm tới chỉ còn khoảng 75 DN xuất khẩu.

Tất nhiên, điều này đang gặp phải sự phản đối của không ít DN nhỏ và một số ý kiến lo ngại trường hợp các DN nhỏ liên kết với nhau để đảm bảo đủ công suất theo tiêu chuẩn thì mong muốn ban đầu của các hiệp hội có thể không thành hiện thực. Nhưng dù sao ý định giảm DN để đảm bảo uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế cũng rất đáng lưu tâm.

Các tin khác