
Việt Nam chính thức bước vào nhóm thu nhập trung bình thấp vào năm 2009, và năm 2024 đã vào nhóm thu nhập trung bình cao khi GDP bình quân đạt khoảng 4.620USD.
Như vậy, để đạt được mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, với tốc độ tăng trưởng dân số như hiện tại, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cần đạt mức tối thiểu xấp xỉ 7% liên tục trong vòng 20 năm tới.
DN là lực lượng chính của chặng đường nâng hạng
WB cũng cảnh báo, nhiều nền kinh tế bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Nam Phi và cả Việt Nam có nguy cơ mắc kẹt trong “bẫy thu nhập trung bình”, trừ khi các nền kinh tế này đổi mới mô hình tăng trưởng với một chiến lược khôn ngoan, hợp lý để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình.
Cũng theo WB, kể từ năm 1990 tới nay, có 34 nền kinh tế thu nhập trung bình chuyển sang trạng thái thu nhập cao, nhờ có những đặc thù riêng, nhưng công thức chung là tiếp nhận và hấp thụ công nghệ từ các nền kinh tế khác trên toàn thế giới, và sau đó là chuyển sang giai đoạn đổi mới và sáng tạo.

Bí quyết của mỗi bước dịch chuyển sang nấc thang mới là các cơ chế, chính sách để hình thành một lực lượng doanh nghiệp (DN) mạnh, năng động, vừa là lực lượng chính, vừa đóng vai trò trụ cột, vừa là động lực chính cho quá trình dịch chuyển từ trạng thái thu nhập thấp lên thu nhập trung bình, và từ thu nhập trung bình lên thu nhập cao.
Lực lượng DN chính là nhân tố quyết định cho việc tăng năng suất lao động, yếu tố quyết định cho việc mở rộng đầu tư, tiếp nhận và hấp thụ công nghệ và tiến hành đổi mới, sáng tạo. Tóm lại, lực lượng DN chính là phương tiện để đưa nền kinh tế vượt qua bẫy thu nhập trung bình và lọt vào nhóm các nền kinh tế có mức thu nhập cao.
Một minh chứng là trong hơn 3 thập niên vừa qua, việc mở rộng đầu tư đã đưa Việt Nam vào nhóm các nước thu nhập trung bình thấp và đang dần tiệm cận ngưỡng các nền kinh tế có thu nhập trung bình cao.
Đó là nhờ có Luật DN, Luật Đầu tư Nước ngoài và một loạt cải cách về quy định pháp luật khác được thông qua, đã tạo một môi trường đầu tư thuận lợi, thông thoáng cho các nhà đầu tư tư nhân trong nước và nước ngoài. Những chính sách này được hỗ trợ bởi các biện pháp tháo gỡ các rào cản của môi trường kinh doanh, dỡ bỏ các hạn chế về thương mại nội địa và quốc tế, mở rộng thị trường trong nước và nước ngoài.
Kết quả cho tới nay đã có một lượng vốn đầu tư đáng kể được đưa vào nền kinh tế bởi hơn 950.000 DN thuộc khu vực kinh tế tư nhân, Nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), và hơn 5 triệu hộ kinh doanh cá thể hoạt động trên khắp cả nước.
Vượt bẫy bằng công nghệ và đổi mới sáng tạo
Với mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần tăng mức GDP bình quân đầu người lên mức tối thiểu 12.696 USD, ngưỡng thu nhập để được xếp vào nhóm các nước có thu nhập cao.
Như vậy, Việt Nam cần tăng quy mô của nền kinh tế lên gấp 3 lần so với hiện tại, đồng thời duy trì mức tăng trưởng dân số như hiện tại. Nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của Việt Nam cần đạt mức tối thiểu xấp xỉ 7% liên tục và bền vững trong vòng 20 năm tới.
2025 là điểm mốc quan trọng khi đất nước kỷ niệm 80 năm ngày giành độc lập, cũng là năm Việt Nam bước vững chắc vào nhóm thu nhập trung bình cao. Đây chính là thời điểm để nền kinh tế Việt Nam chuyển hướng sang giai đoạn đầu tư, hấp thụ công nghệ mới và đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Trong giai đoạn đổi mới sáng tạo này, các DN Việt Nam không còn đơn thuần chỉ vay mượn ý tưởng từ các công nghệ tiên phong trên toàn cầu nữa, mà phải có các công nghệ của riêng mình, được phát minh, sở hữu và khai thác bởi người Việt, DN Việt.
Sự chậm trễ trong việc thoát ly khỏi sự lệ thuộc vào đầu tư, cũng như chậm trễ trong việc chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn trên công nghệ, năng suất, và đổi mới sáng tạo, sẽ làm gia tăng nguy cơ mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình.
Thực tế trên nhiều quốc gia cho thấy, chỉ dựa vào đầu tư, mở rộng đầu tư đã khiến nhiều quốc gia phát triển tăng trưởng nhanh trong giai đoạn đầu, và sau đó các động lực tăng trưởng đuối dần và các nền kinh tế đó dần hụt hơi, đánh mất động lực để vượt bẫy thu nhập trung bình.
Việt Nam nhất định sẽ không để rủi ro đó xảy ra. Trong những thập niên vừa qua, đã có nhiều thí dụ thành công để Việt Nam học hỏi. Thí dụ, vào thập niên 1970, Hàn Quốc chuyển sang tập trung vào chính sách công nghiệp, khuyến khích DN trong nước áp dụng công nghệ nước ngoài và các phương pháp sản xuất phức tạp hơn. DN Hàn Quốc đã hưởng ứng.
Cụ thể như Samsung, từng là hãng sản xuất mì sợi, bắt đầu sản xuất tivi cho thị trường trong nước và khu vực. Hiện nay Samsung là một tập đoàn đa ngành và là nhà đổi mới toàn cầu, dẫn đầu về thị phần điện thoại thông minh và chip nhớ.
Hay Ba Lan tập trung vào nỗ lực nâng cao năng suất bằng các công nghệ tiếp thu từ Tây Âu, với sự tham gia tích cực của cộng đồng DN. Chile khuyến khích chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, xem đây như là giải pháp để thúc đẩy đổi mới trong nước.
Một trong những thành công lớn nhất của Chile là các chính sách đã hỗ trợ cho DN áp dụng công nghệ nuôi cá hồi của Na Uy cho phù hợp với điều kiện địa phương, và biến Chile thành một trong những nước xuất khẩu cá hồi hàng đầu thế giới.
Tăng gấp 3 lần thu nhập bình quân đầu người trong vòng 20 năm tới là một thách thức không hề nhỏ. Để làm được điều này, cũng giống như thí dụ thành công của 3 nền kinh tế trên, lực lượng DN, doanh nhân Việt sẽ phải là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò trung tâm.
Môi trường kinh doanh, môi trường thể chế và các quy định pháp luật cũng sẽ được tiếp tục hoàn thiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tạo sự an tâm cho các DN chấp nhận mạo hiểm, mở rộng đầu tư và đổi mới sáng tạo.
Năm 1986, thu nhập bình quân của Việt Nam chỉ đạt khoảng 95USD/năm, thuộc nhóm thu nhập thấp. Đến năm 2009, tăng lên khoảng 1.120USD, vào nhóm thu nhập trung bình thấp. Năm 2024, tăng lên 4.620USD, bắt đầu bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.