Vay vốn bằng tài sản số
Theo thống kê của Bộ Tài chính, SME hiện chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp (DN) trong nền kinh tế. Tuy nhiên, nhóm SME chỉ tiếp cận được khoảng 19-20% tổng dư nợ tín dụng. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực tế này, trong đó đa phần do DN thiếu tài sản đảm bảo theo chuẩn tín dụng truyền thống như bất động sản.
Nhân viên phân tích dữ liệu tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam ở TPHCM. ẢNH: HOÀNG HÙNG
Tại dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi), Bộ Tài chính đề xuất cơ chế khuyến khích tổ chức tín dụng cho nhóm SME vay trên cơ sở đa dạng hình thức bảo đảm tiền vay. Theo đó, ngoài tài sản hữu hình như bất động sản, DN có thể dùng tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, tài sản số, tài sản ảo... để vay vốn.
TS. Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển kinh tế số Việt Nam, cho rằng đề xuất dùng tài sản số, tài sản ảo để vay vốn hoàn toàn khả thi và tất yếu để thích ứng với nền kinh tế số. Hiện nhiều startup công nghệ vốn chỉ sở hữu tài sản cốt lõi vô hình (phần mềm, dữ liệu) chứ ít sở hữu tài sản hữu hình nên đề xuất này sẽ “rộng cửa” tiếp cận vốn.
Tuy nhiên, với đặc tính biến động mạnh của tài sản số, cần thiết lập một khung quản trị rủi ro đa tầng, đồng thời tự động hóa thanh lý qua hợp đồng thông minh. Theo đó, cần thiết lập các ngưỡng gọi ký quỹ tự động. Nếu giá trị tài sản giảm xuống dưới mức an toàn, hệ thống sẽ tự động thanh lý để thu hồi vốn cho ngân hàng mà không cần qua quy trình tố tụng dân sự kéo dài.
Mặt khác, tài sản số của khách hàng phải được lưu trữ trên các nền tảng lưu ký đạt chuẩn ngân hàng, tách bạch khỏi bảng cân đối kế toán để bảo vệ quyền lợi hai bên trước rủi ro tin tặc hoặc phá sản.
Trong khi đó, TS. Châu Đình Linh, Giảng viên Trường ĐH Ngân hàng TPHCM, cho rằng các ngân hàng thương mại có thể nhập cuộc nhưng cần có những quy định pháp lý cụ thể hơn khi đảm bảo vay bằng tài sản số.
“Để DN tiếp cận được vốn vay từ các ngân hàng, điều quan trọng nhất là mô hình kinh doanh, phương án kinh doanh để sử dụng vốn đúng mục đích và tạo ra dòng tiền trả nợ. Còn tài sản đảm bảo chỉ là thứ yếu, phương án phòng vệ sau cùng”, TS. Châu Đình Linh nhấn mạnh.
Gõ cửa trung tâm tài chính
Bên cạnh mở rộng phạm vi tài sản đảm bảo để góp phần gỡ nút thắt vốn cho SME, việc thêm bài toán vốn nhưng không quá lệ thuộc vào hệ thống ngân hàng là gõ cửa trung tâm tài chính.
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TPHCM (VIFC-HCMC), cho biết thị trường vốn và Trung tâm Tài chính quốc tế sẽ là 2 trụ cột lớn để giảm tải cho hệ thống ngân hàng. Hiện Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam được kỳ vọng trở thành đầu mối thu hút dòng vốn quốc tế và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dài hạn.
Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam không chỉ là sân chơi của các doanh nghiệp lớn, nó còn hướng tới nhóm SME và doanh nghiệp khởi nghiệp. Cụ thể, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam cung cấp sàn giao dịch cộng đồng (Crowdfunding) thông qua mô hình gọi vốn cộng đồng theo Nghị định 324/2025/NĐ-CP.
Theo đó, mỗi doanh nghiệp có thể huy động tối đa 700.000 USD mỗi năm qua kênh này (tương đương khoảng 20 tỷ đồng/năm). “Số vốn huy động một năm có thể còn khiêm tốn nhưng cũng góp phần giải bài toán vốn cho các SME vốn chiếm đa số trong nền kinh tế hiện nay”, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân chia sẻ.
Ông Trần Việt Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM (HUBA) cho rằng, tại TPHCM, các SME luôn rơi vào tình trạng thiếu vốn và bị lệ thuộc nhiều vào vốn ngân hàng và huy động vốn tự phát.
Do đó, bên cạnh việc huy động vốn từ sàn giao dịch cộng đồng, Trung tâm Tài chính quốc tế cần có thêm chính sách để các DN lớn dẫn dắt các SME tạo thành hệ sinh thái bổ trợ lẫn nhau nhằm hấp thụ vốn từ các tập đoàn lớn tham gia trong Trung tâm Tài chính quốc tế.