Môi trường tốt chưa chắc tạo DN mạnh
Dữ liệu Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và Chỉ số hiệu quả kinh tế tư nhân (BPI) năm 2025 của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho thấy chất lượng điều hành tốt chưa chắc được chuyển hóa tương xứng thành hiệu quả phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Có địa phương PCI chưa cao nhưng DN phát triển khá tốt. Ngược lại, có nơi môi trường kinh doanh được đánh giá cao nhưng kết quả DN còn thấp.
Về bản chất, PCI phản ánh chất lượng điều hành và mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh, còn BPI phản ánh kết quả thực tế của khu vực tư nhân về quy mô, hiệu quả, đổi mới và liên kết. Có thể xem PCI là điều kiện đầu vào về thể chế, còn BPI là kết quả đầu ra của quá trình chuyển hóa thể chế thành năng lực sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo.
Phân nhóm 34 địa phương cho thấy chỉ 8 địa phương có PCI tốt và BPI tốt, gồm Bắc Ninh, Hải Phòng, Huế, Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Nguyên, TPHCM và Tuyên Quang. Nhóm này thể hiện sự đồng bộ tương đối giữa chất lượng điều hành và hiệu quả khu vực tư nhân, nhưng chỉ chiếm 23,5%, cho thấy số địa phương chuyển hóa tốt cải cách thể chế thành kết quả phát triển DN còn hạn chế.
Nhóm PCI tốt nhưng BPI thấp gồm An Giang, Đà Nẵng, Đồng Nai, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Ninh Bình, Phú Thọ và Thanh Hóa. Đây là biểu hiện rõ nhất của khoảng cách giữa cải cách và kết quả. Môi trường kinh doanh đã thuận lợi hơn nhưng DN vẫn hạn chế về vốn, công nghệ, nhân lực, quản trị, liên kết chuỗi và thị trường.
Ở chiều ngược lại, Cao Bằng, Cần Thơ, Đắk Lắk, Đồng Tháp, Hà Nội, Nghệ An, Quảng Ngãi, Quảng Trị và Vĩnh Long thuộc nhóm PCI trung bình thấp nhưng BPI tốt. Kết quả này cho thấy hiệu quả khu vực tư nhân còn được hỗ trợ bởi quy mô thị trường, vị trí địa kinh tế, hạ tầng, truyền thống kinh doanh và các lợi thế tích lũy. Tuy nhiên, nếu chất lượng điều hành không được cải thiện, những lợi thế này khó duy trì bền vững.
Nhóm PCI trung bình thấp và BPI thấp gồm Cà Mau, Điện Biên, Gia Lai, Hà Tĩnh, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La và Tây Ninh. Đây là nhóm đối mặt với thách thức kép, môi trường kinh doanh chưa thuận lợi, trong khi năng lực nội sinh của DN còn yếu, từ quy mô thị trường, hạ tầng, nhân lực đến vốn, công nghệ và liên kết chuỗi.
Thành công của địa phương không chỉ nằm ở thủ tục nhanh hay chi phí thấp, mà còn ở khả năng giúp DN lớn lên, đầu tư R&D, tham gia chuỗi cung ứng, nâng năng suất và giá trị gia tăng.
Thúc đẩy DN trưởng thành
Chỉ số BPI phản ánh các khía cạnh về sự trưởng thành của DN như tăng trưởng doanh thu, việc làm, khả năng sinh lời, dự định mở rộng và đặc biệt là đổi mới sáng tạo. Trong khía cạnh đổi mới, BPI đo cả việc DN có nhân sự R&D (nghiên cứu và phát triển), chi cho đổi mới và chuyển đổi số, cải tiến quy trình, sử dụng công nghệ số, tham gia chuỗi cung ứng của DN nước ngoài và liên kết với DN trong nước.
Việc này rất quan trọng, bởi một nền kinh tế không thể mạnh chỉ nhờ có thêm nhiều DN, điều quyết định là DN có lớn lên, có đổi mới và tạo ra nhiều giá trị hơn hay không.
Khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam vẫn “đông nhưng nhỏ”. Hơn 80% DN có dưới 50 lao động, hơn 70% có vốn dưới 10 tỷ đồng; gần 72% đạt doanh thu dưới 10 tỷ đồng, trong khi chỉ 5,6% đạt từ 100 tỷ đồng trở lên.
Vấn đề không chỉ là quy mô nhỏ, mà là nhiều DN chậm lớn. Do vậy, chính sách cần thúc đẩy DN từng bước trưởng thành, từ hộ kinh doanh lên DN nhỏ, DN vừa, DN lớn và DN dẫn dắt chuỗi.
Khoảng trống chuyển hóa của khu vực tư nhân thể hiện rõ nhất ở đổi mới sáng tạo. Chỉ 7,5% DN Việt Nam giới thiệu sản phẩm hoặc dịch vụ mới; tỷ lệ DN vừa và lớn chi cho R&D chỉ đạt 5,1%, thấp xa Malaysia và mức bình quân khu vực.
DN có văn hóa quản trị cởi mở thường khuyến khích chia sẻ ý tưởng, thử nghiệm cách làm mới. Tuy nhiên, chỉ 3,9% DN tư nhân có hợp tác với các tổ chức khoa học và công nghệ, cho thấy mối liên kết giữa DN với viện nghiên cứu, trường đại học và nguồn tri thức bên ngoài còn rất hạn chế.
Mặt khác, dù chỉ 5,9% DN tiếp cận được hỗ trợ tài chính công cho đổi mới sáng tạo, nhóm này có tỷ lệ đổi mới sản phẩm và mức chi cho đổi mới gần gấp 3 lần nhóm không được hỗ trợ. Điều đó cho thấy hỗ trợ công có thể tạo tác động rõ rệt khi DN tiếp cận được nguồn lực, và có đủ năng lực sử dụng nguồn lực đó để tạo ra sản phẩm, công nghệ và kết quả kinh doanh mới.
Vì vậy, cải thiện môi trường kinh doanh phải gắn với nâng cao năng lực DN, nhất là khả năng tiếp cận vốn dài hạn, đất đai, hạ tầng, dữ liệu và thị trường; đồng thời hỗ trợ quản trị, chuyển đổi số, tiêu chuẩn chất lượng, năng suất và tài chính cho DN nhỏ và vừa.
Chính sách hỗ trợ cũng cần được phân tầng theo mức độ trưởng thành của DN. DN mới thành lập cần được hỗ trợ về thủ tục, tư vấn và thị trường; DN nhỏ cần nâng cao quản trị, vốn và công nghệ; DN vừa cần hỗ trợ R&D, tiêu chuẩn hóa và mở rộng chuỗi; DN lớn cần được khuyến khích dẫn dắt hệ sinh thái, đặt hàng đổi mới và hỗ trợ các nhà cung cấp trong nước cùng phát triển.
Cuộc đua mới không chỉ là địa phương nào có PCI cao hơn, mà là địa phương nào chuyển hóa tốt hơn thể chế và nguồn lực thành DN mạnh hơn. Chỉ khi môi trường kinh doanh thuận lợi được kết nối với năng lực tích lũy, đổi mới và mở rộng của DN, khu vực tư nhân mới chuyển từ đông về số lượng sang mạnh về chất lượng và trở thành động lực bền vững của tăng trưởng.
Cải thiện thủ tục mới chỉ giúp DN hoạt động thuận lợi hơn, chưa đủ tạo ra công nghệ, sản phẩm mới hay năng suất cao. Đổi mới chỉ xuất hiện khi DN có đủ năng lực quản trị, nhân lực, tài chính, hấp thụ công nghệ, R&D, liên kết viện - trường và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.