NÂNG TỶ LỆ NỘI ĐỊA HÓA

Bài 2: Doanh nghiệp phải 'vượt ải' vốn và công nghệ

(ĐTTCO) - Muốn tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, bên cạnh nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp (DN), cần tháo gỡ những điểm nghẽn về vốn, đầu ra, liên kết và năng lực nghiên cứu - phát triển (R&D).

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

LTS: Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đặt mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu có khoảng 10.000 DN trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của DN FDI, trong đó có khoảng từ 500-1.000 nhà cung ứng cấp I. Đây là mục tiêu đầy tham vọng, trong bối cảnh số DN Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia vẫn còn khiêm tốn.

Gỡ nút thắt vốn, công nghệ

Ông Đỗ Phước Tống, Chủ tịch Hiệp hội Cơ khí điện TPHCM (HAMEE), khẳng định phần lớn DN đều rất hào hứng và muốn đi sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, song nguồn lực của DN có hạn. Thực tế, DN công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đang phải cạnh tranh hết sức khó khăn so với các DN FDI khi nguồn lực yếu hơn, tài chính yếu hơn và kỹ thuật cũng không có gì trội hơn.

Chưa kể các DN FDI thông thường đi theo chuỗi, có sẵn khách hàng là các tập đoàn FDI lớn tại Việt Nam. “Nếu không có hỗ trợ, đặc biệt là hỗ trợ về vốn thì DN Việt khó có cơ hội chuyển mình phát triển”, ông Tống nhấn mạnh.

Theo ông Nguyễn Trọng Luật, Tổng Giám đốc Cicor Việt Nam, từ góc độ chính sách, Việt Nam cần có các chương trình hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho hoạt động đổi mới công nghệ. Nhiều DN trong nước có khát vọng phát triển nhưng gặp khó khăn khi đầu tư các dây chuyền tự động hóa hoặc các hệ thống sản xuất hiện đại có giá trị hàng triệu USD.

"Vì vậy, Nhà nước có thể xem xét các chính sách tín dụng ưu đãi cho ngành CNHT, các chương trình đồng tài trợ cho R&D, cũng như phát triển các trung tâm thử nghiệm và chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế để giảm chi phí đầu tư ban đầu cho DN", ông Luật kiến nghị.

Khi bàn về vấn đề hỗ trợ vốn, riêng TPHCM đã có chương trình kích cầu đầu tư theo Nghị quyết 09 và Nghị quyết 523 của HĐND TPHCM. Theo đó, DN được vay vốn lên tới 200 tỷ đồng/dự án, ngân sách hỗ trợ lãi suất từ 50-100% tùy lĩnh vực. Dù vậy, số DN tiếp cận thành công nguồn vốn này vẫn còn khá khiêm tốn.

Ông Lê Mai Hữu Lâm, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Sản xuất thiết bị điện công nghiệp Cát Vạn Lợi, cho rằng các DN CNHT Việt Nam hiện nay đứng trước áp lực lớn khi chi phí vốn cao, biên lợi nhuận thấp nên muốn đầu tư cũng phải tính toán thật kỹ.

Các chính sách lớn của Nhà nước hay của TPHCM rất tốt nhưng làm sao để chính sách thực sự đến được với DN nhất là nhóm DN vừa và nhỏ mới là điều quan trọng nhất. Song hành với câu chuyện vốn thì đầu ra cho sản phẩm cũng hết sức quan trọng.

Ông Trần Thành Trọng, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Sáng Ban Mai, Phó Chủ tịch HAMEE, chỉ ra thực tế Việt Nam chưa có qui định pháp luật bắt buộc nhà đầu tư FDI khi được hưởng ưu đãi thì phải sử dụng nguyên vật liệu sản xuất tại Việt Nam theo tỷ lệ nhất định.

Theo ông Trọng, khi đã có Nghị quyết 10 của Bộ Chính Trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, cần thể chế rõ trong luật qui định tỷ lệ % nhà đầu tư FDI phải sử dụng sản phẩm do Việt Nam sản xuất. Nếu sau một thời gian, nhà đầu tư FDI không tuân thủ, phải thu hồi ưu đãi.

“DN cần cơ chế đảm bảo khi đầu tư thì đầu ra là các DN FDI phải cam kết sử dụng ổn định, lâu dài và số lượng đủ lớn. Điều này chỉ được giải quyết khi có qui định pháp luật ràng buộc”, ông Trọng bày tỏ.

Xây liên kết, đổi tư duy

Một trong những điểm yếu lâu nay của DN Việt đó là thiếu tính liên kết. Trong khi giá trị lớn của CNHT chính là hình thành chuỗi kết nối các DN. Đó là lý do nhà cung ứng cấp 1 cần có nhà cung ứng cấp 2, cấp 3 chứ không thể tự mình giải quyết hết các bài toán trong chuỗi.

Công ty TNHH Cơ khí chính xác SMC Phú Mỹ là một ví dụ. Với vai trò là nhà cung ứng cấp I, SMC đang phát triển chuỗi “chân rết” hơn 10 DN là các nhà cung ứng cấp II, cấp III. Tuy nhiên đa số vẫn là các DN FDI, trong khi DN Việt Nam rất ít.

Đại diện SMC cho biết mong muốn kết nối các DN trong nước cùng tham gia chuỗi bằng cách tham gia sâu vào Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ TPHCM (HASI). Từ đây tìm kiếm các DN phù hợp với từng mắt xích để hỗ trợ họ tham gia chuỗi cung ứng.

“Chỉ khi đi cùng các DN dẫn dắt, các DN nhỏ và vừa mới dễ tham gia vào chuỗi cung ứng. Từ đây, các DN nội địa sẽ từng bước nâng cấp năng lực, mở rộng vai trò của mình trong chuỗi”- ông Nguyễn Ngọc Đăng Khoa, Phó Giám đốc phát triển kinh doanh SMC, nhấn mạnh.

Tham gia vào chuỗi rồi nhưng nỗ lực của các DN thì chưa thể dừng lại bởi tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng. Theo ông Cha Ji Ho, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm mua hàng Samsung Việt Nam, các DN đang tìm kiếm đối tác không chỉ có năng lực cạnh tranh về giá, mà còn cần bảo đảm thời gian giao hàng ổn định, chất lượng nhất quán, khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật nhanh chóng, quản lý dữ liệu minh bạch và phát triển bền vững.

Theo ông Nguyễn Trọng Luật, thước đo thành công của CNHT trong 10 năm tới không phải là số lượng nhà máy được xây dựng hay số lượng DN tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Quan trọng hơn là có bao nhiêu DN Việt Nam làm chủ được công nghệ, sở hữu năng lực R&D và trở thành đối tác đổi mới sáng tạo của các tập đoàn quốc tế.

“Nội địa hóa không nên chỉ được đo bằng tỷ lệ linh kiện sản xuất trong nước. Nội địa hóa phải được đo bằng tỷ lệ công nghệ, chất xám và sáng tạo của người Việt Nam trong mỗi sản phẩm được xuất khẩu ra thế giới. Khi DN Việt Nam có thể cùng thiết kế, cùng phát triển và cùng sở hữu giá trị công nghệ với các tập đoàn toàn cầu, đó mới là sự tham gia sâu và bền vững vào chuỗi giá trị toàn cầu”, ông Luật bày tỏ.

Song hành với việc nâng cao tỷ lệ tham gia chuỗi của DN, một bài toán không nhỏ cũng cần được tính tới, đó chính là phải nhắm tới các công đoạn tạo ra giá trị cao như thiết kế, sản xuất linh kiện phức tạp và phát triển công nghệ.

Các tin khác