Đây là nền tảng quan trọng để Việt Nam tiếp tục mở rộng thị trường và gia tăng hiện diện trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đổi mới xúc tiến thương mại
Mặc dù đà tăng trưởng đã mở rộng từ một số ngành chủ lực sang nhiều lĩnh vực khác (nhóm điện tử, máy móc, dệt may và da giày, nhóm nông, lâm, thủy sản...), nhưng Bộ Công thương vẫn nhìn nhận, để đạt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu khoảng 15%-16% trong năm 2026 là không dễ dàng.
Vì vậy, hoạt động xúc tiến thương mại được đổi mới theo hướng đi thẳng vào nhu cầu nhà mua hàng quốc tế. Thay vì dừng ở việc quảng bá hay giới thiệu sản phẩm, các chương trình xúc tiến tập trung tìm đúng đối tác, kết nối đúng doanh nghiệp và tạo điều kiện để hai bên đánh giá trực tiếp năng lực hợp tác.
Vận chuyển ống nhựa HDPE sau khi hoàn thiện tại Nhà máy CNS Thạnh Phát, Khu công nghiệp Hiệp Phước, TPHCM. Ảnh: HOÀNG HÙNG
Theo ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài hiện không chỉ cung cấp thông tin thị trường mà còn chủ động tìm kiếm khách hàng, sàng lọc đối tác, kết nối đúng doanh nghiệp và đưa các đoàn mua hàng có nhu cầu thực đến Việt Nam khảo sát năng lực sản xuất.
Điểm mới của mô hình này là toàn bộ quá trình kết nối được chuẩn bị từ rất sớm. Trước khi các đoàn doanh nghiệp quốc tế sang Việt Nam, Bộ Công thương phối hợp với hệ thống Thương vụ tổ chức nhiều phiên giao thương trực tuyến để doanh nghiệp giới thiệu hồ sơ năng lực, công suất, các chứng nhận quốc tế, khả năng giao hàng và hệ thống quản trị chất lượng.
Khi đến Việt Nam, các nhà mua hàng có thể trực tiếp xem sản phẩm mẫu, khảo sát nhà máy, vùng nguyên liệu, hệ thống truy xuất nguồn gốc và năng lực vận hành của cả chuỗi cung ứng trước khi quyết định đặt hàng.
Với sự đổi mới xúc tiến thương mại nói trên, từ tháng 8 đến tháng 9-2026, khoảng 400 đoàn thu mua đến từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có kế hoạch tham gia các chương trình kết nối giao thương tại Việt Nam, trọng tâm là Vietnam International Sourcing 2026.
Dự kiến hơn 3.000 cuộc kết nối B2B (Business-to-Business - mô hình kinh doanh thương mại giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp) sẽ diễn ra không chỉ tại khu triển lãm mà còn trực tiếp tại nhà máy, vùng nguyên liệu và trung tâm sản xuất.
Thích ứng “luật chơi” khắt khe
Qua công tác quản lý, điều hành, Bộ Công thương đánh giá thách thức lớn nhất của hàng hóa Việt Nam là đáp ứng những “luật chơi” ngày càng đa dạng và khắt khe của từng quốc gia. Xu hướng này thể hiện rõ tại châu Âu.
Khách tìm hiểu các dòng sản phẩm gỗ xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam tại một triển lãm quốc tế về ngành gỗ. ẢNH: HOÀNG HÙNG
Theo bà Võ Thị Ngọc Diệp, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Hà Lan, dù xuất khẩu sang Hà Lan vẫn duy trì mức tăng trưởng 2 con số trong những tháng đầu năm 2026 nhưng lợi thế từ Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) đang dần chuyển sang lợi thế về năng lực tuân thủ.
Bên cạnh EVFTA, Liên minh châu Âu (EU) triển khai Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), Quy định chống mất rừng (EUDR) và nhiều quy định thuộc Thỏa thuận Xanh châu Âu. Qua đó yêu cầu doanh nghiệp chứng minh toàn bộ hành trình của sản phẩm, từ vùng nguyên liệu, lượng phát thải carbon đến điều kiện lao động và trách nhiệm môi trường.
Trong khi đó, Hoa Kỳ lại siết chặt quản lý theo hướng quản trị rủi ro dựa trên dữ liệu. Theo ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Hoa Kỳ, các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, xuất xứ, lao động cưỡng bức và minh bạch chuỗi cung ứng ngày càng được tăng cường. “Hộ chiếu sản phẩm” đang trở thành công cụ quản lý mới, cho phép cơ quan chức năng theo dõi toàn bộ quá trình hình thành sản phẩm trước khi hàng hóa cập cảng.
Đồ họa: Ngọc Trâm nguồn: Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
Không chỉ các thị trường lớn, xu hướng siết chặt các rào cản kỹ thuật đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng thông báo và điểm hỏi đáp quốc gia về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật Việt Nam (SPS Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết đến ngày 31-7, các thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã liên tiếp ban hành nhiều thông báo SPS mới liên quan đến các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Brazil, Israel, Canada và Ma-rốc.
Điều này cho thấy yêu cầu về an toàn thực phẩm, kiểm dịch, truy xuất nguồn gốc, môi trường và tính minh bạch của chuỗi cung ứng đang được nâng lên ở hầu hết các thị trường, không còn giới hạn trong một vài khu vực.
- Ông Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương:
Chính sách tín dụng cần chuyển từ tư duy cho vay dựa chủ yếu vào tài sản bảo đảm sang đánh giá dòng tiền tương lai, hợp đồng đầu ra và mức độ tham gia của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Theo đó, cần xây dựng các gói tín dụng chuyên biệt cho doanh nghiệp xuất khẩu, phát triển cơ chế bảo lãnh tín dụng và chia sẻ rủi ro giữa ngân hàng, quỹ bảo lãnh và doanh nghiệp dẫn dắt; đồng thời thúc đẩy các công cụ tài chính chuỗi cung ứng như bao thanh toán, chiết khấu hóa đơn, tài trợ theo hợp đồng...
- Phát biểu tại diễn đàn về giải pháp tăng trưởng cho TPHCM, Giáo sư Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore:
Cần ưu tiên điều phối dòng vốn vào các dự án nền tảng như logistics hiện đại, năng lượng tái tạo và trung tâm dữ liệu. Đây là những hạ tầng thiết yếu giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ chuỗi xuất khẩu, tạo động lực cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và mở rộng thị phần của doanh nghiệp Việt.