Lao động nền tảng: Bấp bênh, nguy hiểm
Trên đường Đặng Văn Trơn (phường Trấn Biên, TP Đồng Nai), chiều 9-9, một chiếc xe bán tải bất ngờ lao sang làn đường chiều ngược lại, va chạm với 1 ô tô và 2 xe máy. Xe bán tải đã cuốn anh P.K.B. (39 tuổi, tài xế Grab) cùng xe máy lao thẳng lên lề đường, húc vào tường nhà dân. Vụ tai nạn khiến anh B. tử vong tại chỗ khi đang trên đường đi làm.
Tai nạn giao thông như vụ việc kể trên là một trong những rủi ro phổ biến mà các tài xế công nghệ (nhóm lao động nền tảng) gặp phải khi làm việc. Tại hội thảo “An sinh cho tài xế xe công nghệ - Thực trạng và giải pháp” do Trung tâm Tư vấn và hỗ trợ người lao động (NLĐ) Công đoàn TPHCM phối hợp với Bảo hiểm xã hội TPHCM tổ chức mới đây, ông Phùng Thái Quang, Phó Chủ tịch LĐLĐ TPHCM, Giám đốc Trung tâm Tư vấn và hỗ trợ NLĐ Công đoàn TPHCM, nhìn nhận: "Hiện nay, chạy xe công nghệ đã trở thành nghề mưu sinh chính của nhiều NLĐ. Ngoài làm việc vất vả nhiều giờ mỗi ngày trong môi trường khắc nghiệt, tài xế công nghệ còn thường xuyên đối mặt với rủi ro như: tai nạn giao thông, lừa đảo, cướp giật, quấy rối".
Kết quả khảo sát 141 tài xế công nghệ đang hoạt động trên các nền tảng Grab, Green SM và Be của Trung tâm Tư vấn và hỗ trợ NLĐ Công đoàn TPHCM cho thấy, 73,8% tài xế từng ít nhất một lần va chạm hoặc bị tai nạn trên đường đi làm; trên 65% tài xế từng gặp các tình huống lừa đảo, cướp giật, quấy rối.
Trong khi đó, tài xế được xác định là “đối tác” của các nền tảng số chứ không phải NLĐ theo quan hệ lao động truyền thống, dẫn đến họ không thuộc diện tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) bắt buộc.
Có 73,4% tài xế được khảo sát cho biết có tham gia BHYT, chủ yếu theo hình thức BHYT hộ gia đình, được Công đoàn hỗ trợ; số còn lại chưa tham gia bất kỳ loại hình bảo hiểm nào. Mặt khác, theo BHXH TPHCM, trong số hơn 400.000 tài xế công nghệ đang hoạt động tại thành phố, chỉ có khoảng 700 người có tham gia BHXH tự nguyện.
Tài xế công nghệ thường xuyên đối mặt với những rủi ro trên đường chở khách, trong đó phổ biến là tai nạn giao thông, bị hành hung, lừa đảo… Ảnh: HOÀNG TRIỀU
Theo Bộ Nội vụ, hiện nay, NLĐ không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc thì thuộc đối tượng tham gia BHXH tự nguyện. Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích NLĐ tham gia BHXH tự nguyện như hỗ trợ tiền đóng, trợ cấp thai sản 1 lần.
Chưa xác lập rõ quan hệ lao động
Hiện nay, kỷ nguyên chuyển đổi số đang diễn ra ngày càng sâu rộng, nền kinh tế số của Việt Nam có tốc độ phát triển ấn tượng, trở thành một trong những điểm sáng của khu vực Đông Nam Á. Cùng với đà bứt phá đó, thị trường lao động cũng chuyển dịch mạnh mẽ, khi các mô hình việc làm truyền thống dần nhường chỗ cho những hình thức linh hoạt hơn, tiêu biểu là lao động tự do, lao động nền tảng.
Báo cáo công bố vào tháng 12-2025 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho biết, đến năm 2024, Việt Nam đã có khoảng 7,5 triệu người tham gia làm việc trên nền tảng số, chiếm gần 14% tổng lực lượng lao động. Số liệu của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết, có hơn 70% lao động đang làm việc qua các nền tảng không được giao kết hợp đồng lao động.
Mối quan hệ giữa NLĐ và đơn vị cung cấp nền tảng đa phần chỉ mang tính hợp tác dân sự, khiến NLĐ rơi vào trạng thái dễ bị tổn thương và không được đảm bảo các quyền lợi về việc làm, thu nhập, bảo hiểm cũng như không được bảo vệ khi xảy ra tranh chấp.
Với xu hướng phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI), Bộ Tài chính dự báo thời gian tới sẽ có một số ngành nghề, doanh nghiệp sử dụng lực lượng lớn NLĐ (lao động chính thức) như dệt may, giày da, sản xuất, gia công, lắp ráp điện tử... đẩy mạnh sử dụng máy móc, thiết bị tự động thay thế NLĐ trực tiếp.
Thực tế này dẫn đến NLĐ sẽ phải chuyển sang làm việc theo hình thức khác như tự kinh doanh, cung ứng dịch vụ vận chuyển, giao nhận, bán hàng, môi giới, làm việc thời hạn dưới 1 tháng; làm việc bán thời gian (lao động phi chính thức)...
Đặc điểm chung và bất lợi của lao động phi chính thức là việc làm bấp bênh, thiếu ổn định, thu nhập thấp, không có hợp đồng lao động hoặc có nhưng không được đóng BHXH bắt buộc, không được chi trả chế độ phụ cấp và các khoản phúc lợi xã hội khác.
Theo TS Đinh Thị Chiến, giảng viên Trường ĐH Luật TPHCM, nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên là do sự “thiếu vắng” các quy định pháp luật điều chỉnh cho loại hình lao động mới này. Bộ luật Lao động, Luật BHXH, Luật An toàn vệ sinh lao động, Luật Việc làm hiện hành vẫn chủ yếu dựa trên cấu trúc quan hệ lao động truyền thống; chưa có định danh về quan hệ lao động của người làm việc trên nền tảng số, kéo theo những khoảng trống pháp lý về điều kiện làm việc, an sinh xã hội và quyền đại diện thương lượng của lực lượng lao động này.
Chờ luật!
Để mở rộng diện bao phủ, đảm bảo an sinh cho NLĐ, vừa qua, khi góp ý cho dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHXH 2024, Bộ Tài chính đã đề nghị cơ quan soạn thảo quy định bổ sung đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với nhóm có thu nhập từ hoạt động cung ứng dịch vụ, vận chuyển, giao nhận, bán hàng (kể cả đại lý xổ số, người bán vé xổ số (dạo) của công ty, đại lý xổ số), bán hàng online, môi giới, thông qua nền tảng số, ứng dụng công nghệ hoặc mô hình việc làm linh hoạt.
Đây cũng là đề xuất của Đoàn Đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành như TPHCM, Hà Nội, Gia Lai; UBND và Sở Nội vụ nhiều địa phương: Hà Nội, Huế, Đồng Nai, Hà Tĩnh, Nghệ An, Vĩnh Long, Sơn La, Hưng Yên, Lào Cai, Đắk Lắk, Phú Thọ, Điện Biên...
Lý giải căn cứ đề xuất, Bộ Tài chính cho hay dựa trên mối quan hệ lao động thực tế (nền tảng kiểm soát giá cả, áp đặt thời gian và đánh giá hiệu suất thì được thừa nhận là NLĐ); quyền an sinh xã hội của NLĐ; phù hợp với quy định về hợp đồng lao động của Bộ luật Lao động 2019, Luật BHXH 2024, Công ước lao động quốc tế và chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 28-NQ/TW về tăng nhanh diện bao phủ người tham gia BHXH hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân, đồng thời đảm bảo quyền lợi về BHXH, BHYT cho các đối tượng nếu không may bị rủi ro bệnh tật.
Phản hồi đề xuất này, Bộ Nội vụ, cơ quan xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHXH 2024, cho hay Luật BHXH 2024 đã bổ sung 5 nhóm đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc; Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ quyết định việc tham gia BHXH bắt buộc đối với đối tượng khác ngoài đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc hiện nay mà có việc làm, thu nhập ổn định, thường xuyên trên cơ sở đề xuất của Chính phủ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ.
Luật BHXH 2024 mới thực hiện được hơn 1 năm, nên việc tiếp tục bổ sung đối tượng tham gia BHXH bắt buộc cần được xem xét, đánh giá kỹ lưỡng trên nhiều phương diện, đảm bảo tính thống nhất phù hợp với các quy định của pháp luật về việc đóng, giải quyết chế độ BHXH, khả năng và trách nhiệm pháp lý của NLĐ... Do đó, Bộ Nội vụ sẽ phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành nghiên cứu kỹ lưỡng, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định về việc tiếp tục mở rộng đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc.
PGS-TS Nguyễn Đức Lộc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu đời sống xã hội (SocialLife): Định danh lại quan hệ và mở diện tham gia BHXH bắt buộc
Cần có văn bản do Chính phủ ban hành, hướng dẫn xác định dấu hiệu nhận biết quan hệ lao động trong hoạt động cung ứng dịch vụ qua nền tảng số, lấy 4 dấu hiệu làm căn cứ gồm: nền tảng ấn định giá dịch vụ, nền tảng phân phối công việc bằng thuật toán, nền tảng áp dụng chế tài đối với NLĐ thông qua việc hạn chế hoặc khóa quyền truy cập, nền tảng đánh giá kết quả thực hiện công việc. Khi hội đủ các dấu hiệu này, quan hệ được xác định là quan hệ có trả công và có sự quản lý, điều hành, giám sát, thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc theo tinh thần của Luật BHXH 2024.
Bên cạnh đó, khi sửa đổi Luật BHXH, cần bổ sung đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với nhóm người có thu nhập từ hoạt động cung ứng dịch vụ vận chuyển, giao nhận và các dịch vụ tương tự thông qua nền tảng số; giao Chính phủ quy định chi tiết về mức đóng, phương thức đóng và ngưỡng thu nhập làm căn cứ đóng.
TS Đinh Thị Chiến, Giảng viên Trường Đại học Luật TPHCM: Luật hóa trách nhiệm của doanh nghiệp nền tảng
Việt Nam có thể cân nhắc, lựa chọn xây dựng một khung pháp lý riêng cho lao động nền tảng mà không nhất thiết phải định danh toàn bộ họ là NLĐ theo nghĩa truyền thống. Việc buộc tất cả trường hợp vào khuôn mẫu quan hệ lao động có thể dẫn đến tình trạng pháp luật vừa quá cứng nhắc, vừa không phản ánh đúng bản chất đa dạng của mô hình việc làm mới.
Mặt khác, để đảm bảo các chế độ an sinh cơ bản cho lao động nền tảng số, nếu chỉ dựa vào BHXH tự nguyện là chưa đủ, bởi toàn bộ nghĩa vụ đóng góp được chuyển sang cá nhân, trong khi doanh nghiệp nền tảng vẫn trực tiếp hưởng lợi từ công việc của họ.
Do đó, cần nghiên cứu cơ chế đóng góp an sinh bắt buộc có sự tham gia của doanh nghiệp nền tảng, ít nhất đối với BHYT, bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp, hưu trí; tỷ lệ đóng thiết kế tương ứng với mức thu nhập qua nền tảng và mức độ phụ thuộc của người làm việc.
Ngoài ra, đối với những lao động nền tảng có mức độ phụ thuộc cao và nguồn thu nhập chủ yếu từ nền tảng, có thể nghiên cứu mở rộng thêm BHTN, bởi trên thực tế việc bị khóa tài khoản hoặc mất quyền tiếp cận nền tảng có thể tạo ra hậu quả kinh tế gần với mất việc làm.
HỒNG ĐÀO ghi