Thể chế chuyển đổi số ở Việt Nam

(ĐTTCO) - Trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số không chỉ là xu thế công nghệ, mà còn là động lực then chốt cho cải cách thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia và thúc đẩy phát triển bền vững. Điều này được thể hiện qua 2 nghị quyết quan trọng là Nghị quyết 68 và Nghị quyết 57.

Doanh nghiệp đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển sản xuất thông minh.
Doanh nghiệp đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển sản xuất thông minh.

Thể chế bằng nghị quyết

Nghị quyết 68 tập trung vào nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một điểm nhấn đáng chú ý là chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý nhà nước và hoạt động kinh tế, coi dữ liệu là nguồn lực phát triển mới.

Việc triển khai Nghị quyết 68 hướng đến chuẩn hóa và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý, phát triển hạ tầng dữ liệu quốc gia và khung pháp lý quản trị dữ liệu, thúc đẩy kinh tế số, chính phủ số và các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng số.

TS-tran-van.gif

Trong thực tiễn, Nghị quyết 68 đã thúc đẩy mạnh mẽ cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi mô hình quản lý từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, để môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân.

Nhiều bộ ngành đã chủ động cắt giảm, đơn giản hóa hàng trăm thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Chủ trương ứng dụng công nghệ số, số hóa quy trình quản lý và giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh góp phần giảm chi phí vận hành, mở rộng thị trường, và nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận vốn, đất đai, phát triển chuỗi giá trị.

Trước đó, Nghị quyết 57 đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện công tác xây dựng pháp luật, trong đó có nội dung trọng tâm về “số hóa quy trình lập pháp”. Tư duy số hóa ở đây không chỉ dừng ở việc sử dụng công nghệ, mà là cải tiến toàn bộ chuỗi giá trị của hoạt động lập pháp: từ khảo sát, soạn thảo, lấy ý kiến, đến đánh giá tác động và theo dõi thi hành.

Tác động thực tiễn của Nghị quyết 57 chính là mở đường cho việc hình thành “quốc hội số” và “chính phủ số”, tạo nền móng thể chế thích ứng với nền kinh tế số trên cơ sở phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, cá nhân hóa dựa trên dữ liệu số.

Việc triển khai các nền tảng số, quản lý hồ sơ, thủ tục hành chính bằng công nghệ số, đã tăng hiệu quả phục vụ nhân dân và doanh nghiệp, tạo động lực cho chuyển đổi nhận thức, phát huy nội lực sáng tạo, khích lệ các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp cùng chung tay cải thiện thể chế với nhiều chính sách đặc thù cho tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Từ chủ trương đến hiện thực

Có thể nói, Nghị quyết 68 và Nghị quyết 57 của Đảng đang tạo ra những chuyển biến rõ nét, đặt nền tảng cho quá trình số hóa thể chế quốc gia, thể hiện nỗ lực mạnh mẽ của Việt Nam trong chuyển đổi từ quản trị hành chính truyền thống sang quản trị thông minh dựa trên dữ liệu.

Các sáng kiến như Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, Cổng dịch vụ công quốc gia, định danh điện tử VNeID, hay nền tảng phân tích dữ liệu phục vụ ra quyết định đã phản ánh bước tiến này.

Việt Nam đã ban hành hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả chuyển đổi số trong quản trị nhà nước, xây dựng theo nhiều tiêu chí nhằm đo lường toàn diện mức độ ứng dụng công nghệ số trong hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công và cải cách thể chế.

Các nhóm chỉ số chính đánh giá chuyển đổi số bao gồm: nhóm chỉ số về dịch vụ công trực tuyến; nhóm chỉ số về hạ tầng số và liên thông dữ liệu; nhóm chỉ số về an toàn thông tin mạng và an ninh số; nhóm chỉ số về thể chế, chính sách và năng lực nhân lực.

Việc xây dựng và sử dụng các chỉ số đánh giá hiệu quả chuyển đổi số, giúp quản lý nhà nước nắm bắt chính xác tiến độ, chất lượng công việc, từ đó điều chỉnh kịp thời chiến lược phát triển chính phủ số, nâng cao năng lực phục vụ người dân và doanh nghiệp. Các chỉ số này cũng tăng cường sự minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quá trình chuyển đổi số quốc gia.

Tuy vậy, hành trình chuyển đổi số vẫn còn những thách thức lớn: hạ tầng dữ liệu chưa đồng bộ, năng lực nhân sự công nghệ còn hạn chế, và đặc biệt là yêu cầu đổi mới tư duy quản lý để phù hợp với mô hình chuyển đổi số toàn diện. Thành công của quá trình này phụ thuộc vào mức độ hợp tác giữa Nhà nước, khu vực tư nhân và người dân trong việc đồng kiến tạo thể chế số.

Đến thời điểm hiện nay, quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Tuy nhiên, để có bước đột phá trong giai đoạn tới, cần có những giải pháp mới đồng bộ về pháp lý, công nghệ, nhân lực và hợp tác xã hội. Trong đó, quan trọng nhất là hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu, chính phủ điện tử và các giao dịch số để tạo hành lang pháp lý cho kinh tế số, xã hội số phát triển ổn định.

Quốc hội đã xem xét, thảo luận, thông qua một loạt luật có liên quan tới chuyển đổi số quốc gia như: Luật Giao dịch điện tử, Luật Căn cước, Luật Dữ liệu, Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Chuyển đổi số… Trong đó Luật Chuyển đổi số là luật trọng tâm mới nhất và khung pháp lý tổng thể cho chuyển đổi số ở Việt Nam.

Các tin khác