LTS: Sau gần 40 năm kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên ra đời, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Thế nhưng, sự thiếu kết nối giữa DN FDI và DN trong nước vẫn là một trong những hạn chế lớn. Vì thế, trong bối cảnh mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là thu hút các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao, mà còn phải thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao tỷ lệ nội địa hoá.
Tỷ lệ tham gia rất thấp
Tại lễ khai mạc Hội nghị tìm kiếm nhà cung cấp CNHT và Triển lãm MTA Vietnam 2026 diễn ra mới đây tại TPHCM, ông Okabe Mitsutoshi, Trưởng đại diện Văn phòng Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tại TPHCM, cho biết Việt Nam hiện đang thu hút hơn 2.000 DN Nhật Bản đến đầu tư. Tuy nhiên, một thách thức lớn vẫn còn tồn tại là tỷ lệ nội địa hóa nguồn cung tương đối thấp so với các quốc gia khác.
Theo khảo sát do JETRO công bố vào tháng 11-2025, tỷ lệ nội địa hóa nguồn cung của Việt Nam được ghi nhận ở mức 38,1% (bao gồm cả việc mua sắm từ các DN liên kết với Nhật Bản và các DN FDI khác tại Việt Nam). Nếu chỉ tính riêng mua sắm từ các DN Việt Nam thì tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 18,3%.
Chia sẻ với ĐTTC, ông Nguyễn Trọng Luật, Tổng Giám đốc Cicor Việt Nam (thành viên của Cicor Thuỵ Sĩ), cho biết Cicor Việt Nam đang hợp tác với hơn 10 DN Việt Nam trong chuỗi cung ứng, chủ yếu trong các lĩnh vực cơ khí chính xác, kim loại tấm, đóng gói công nghiệp, logistics, gia công linh kiện cơ khí và một số dịch vụ kỹ thuật hỗ trợ.
Hiện tỷ lệ mua hàng nội địa hiện đạt khoảng 1-3% tổng giá trị mua hàng và tỷ lệ nội địa hóa cũng đang ở mức khoảng 3%, song theo ông Luật, nhìn vào con số này, có thể nhiều người cho rằng còn thấp. Tuy nhiên, cần đặt trong bối cảnh thực tế của ngành điện tử công nghệ cao.
"Cicor phục vụ các lĩnh vực có yêu cầu rất khắt khe như thiết bị y tế, công nghiệp, hàng không và quốc phòng. Nhiều linh kiện điện tử cốt lõi, vi mạch, cảm biến, vật liệu chuyên dụng hiện vẫn phải nhập khẩu từ châu Âu, Mỹ, Nhật Bản hoặc các quốc gia có ngành công nghiệp bán dẫn phát triển"- ông Luật chia sẻ.
Ở bức tranh rộng hơn, tại TPHCM theo thống kê giai đoạn 2019-2025, tỷ lệ nội địa hoá của một số ngành như điện tử còn thấp chỉ đạt 25,81%. Theo đánh giá của Sở Công thương TPHCM, các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn vẫn dừng lại ở phân khúc giản đơn, hàm lượng công nghệ ở mức trung bình, thấp và giá trị gia tăng chưa cao.
Tỷ lệ DN tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn FDI hay ký kết hợp đồng dài hạn vẫn rất khiêm tốn. Thực trạng này bắt nguồn từ việc đa phần DN có quy mô nhỏ, thiếu hụt nguồn vốn, năng lực quản trị hạn chế và trình độ R&D chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe.
Công nghệ và nhân lực là điểm nghẽn
Ở góc nhìn toàn cảnh, TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam đã đưa ra những con số cho thấy DN Việt tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay vẫn còn những điều cần phải suy nghĩ.
Cụ thể, trong bối cảnh nền kinh tế có hơn 1 triệu DN đang hoạt động, chỉ có khoảng 5.000 DN chen chân được vào các chuỗi cung ứng. Phân cấp sâu hơn chỉ có hơn 300 DN trở thành nhà cung ứng cấp I, II cho các tập đoàn đa quốc gia, và con số đạt đẳng cấp nhà cung ứng cấp I dừng lại ở mức khiêm tốn chỉ hơn 100 DN.
Đánh giá về nguyên nhân các DN chưa thể tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, TS. Lê Duy Bình cho rằng công nghệ và nhân lực đang là hai hạn chế lớn. Có tới 60-70% DN trong nước đang sử dụng công nghệ ở mức trung bình hoặc đã lạc hậu.
Thêm vào đó, nguồn nhân lực chưa đáp ứng được chuẩn quốc tế. Đặc biệt, tư duy “tiết kiệm” không đúng chỗ khiến chi phí đầu tư cho R&D (nghiên cứu và phát triển) của Việt Nam hiện chưa tới 1% doanh thu, quá nhỏ bé so với mức 3-5% của các nước phát triển.
Về khách quan, theo ông Bình, chi phí logistics đang “ăn mòn” lợi nhuận DN. Song song đó, hệ thống pháp luật chồng chéo, chính sách hỗ trợ công nghiệp chưa đủ lực và các rào cản thủ tục hành chính (thuế, hải quan) vẫn đang làm khó doanh DN mỗi ngày.
Dưới góc nhìn của DN FDI, ông Nguyễn Trọng Luật chỉ ra 3 điểm nghẽn cần cải thiện gồm: đầu tư công nghệ; hệ thống quản trị theo tiêu chuẩn quốc tế và năng lực đổi mới sáng tạo. “Các tập đoàn quốc tế ngày nay không tìm kiếm một nhà cung ứng chỉ biết sản xuất theo bản vẽ. Họ tìm kiếm những đối tác có thể cùng cải tiến sản phẩm, giảm chi phí, tăng độ tin cậy và rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường”, ông Luật phân tích.
Giải bài toán “con gà và quả trứng”
Thực tế, muốn đầu tư công nghệ đáp ứng yêu cầu của khối FDI thì vấn đề vốn rất quan trọng. Ông Nguyễn Ngọc Đăng Khoa, Phó Giám đốc phát triển kinh doanh Công ty TNHH Cơ khí chính xác SMC Phú Mỹ cho biết, để có thể trở thành nhà cung ứng cấp I độc lập cho Samsung, SMC đã chấp nhận đầu tư máy móc ban đầu lên tới 6 triệu USD, cùng với đó là đầu tư nhân lực, đáp ứng nhiều tiêu chí của Samsung ngay khi chưa có bất cứ hợp đồng đầu ra nào.
“Khi chia sẻ kế hoạch này, Samsung đã hỗ trợ SMC bằng cách cung cấp hồ sơ kỹ thuật, yêu cầu công nghệ, giới thiệu các nhà cung ứng thiết bị, đồng thời chia sẻ những quan điểm kỹ thuật cốt lõi nhưng chưa có bất cứ hợp đồng nào”- ông Khoa kể lại.
Bằng quyết tâm, hiện SMC đang là nhà cung ứng cấp I, đảm nhiệm sản xuất một số cụm linh kiện cho máy giặt Samsung. Trước đó vào năm 2019, SMC đã có cơ duyên trở thành nhà cung ứng cấp III, sau đó nhờ năng lực đã được chuyển lên nhà cung ứng cấp II và từng bước tiến sâu vào chuỗi Samsung.
Cũng hái quả ngọt từ hành trình bền bỉ nâng cấp công nghệ, ông Nguyễn Ngô Long, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Cơ khí Nhật Long, cho biết trước Covid Nhật Long chủ yếu cung cấp linh kiện, phụ tùng thay thế cho các DN Việt Nam. Nhưng khi Covid ập tới, các DN FDI đã phải tìm kiếm nguồn linh kiện ngay tại thị trường Việt Nam. Nhật Long được lựa chọn bởi giá, chất lượng cạnh tranh.
Đến nay Nhật Long vẫn đang là đối tác của nhiều DN đến từ Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc… Theo ông Long, trong vòng 10 năm trở lại đây công ty đã đầu tư nâng cấp với tổng vốn khoảng 70-80 tỷ đồng. Và hành trình ấy vẫn chưa dừng lại vì nếu không nâng cấp liên tục sẽ nhanh chóng bị loại khỏi cuộc chơi.