Đưa nghị quyết thành chính sách thiết thực

(ĐTTCO) - Quyết tâm cải cách ở cấp Trung ương đã rất rõ ràng, thể hiện qua hàng loạt quyết sách, cơ chế mới được ban hành trong thời gian qua nhằm tháo gỡ khó khăn, trợ lực cho doanh nghiệp (DN). Tuy nhiên, “bản lề” quyết định sự thành bại của mọi cải cách thể chế lại nằm ở khâu thực thi chính sách.

Công nhân vận hành dây chuyền sản xuất tại Nhà máy Tôn Đông Á, KCN Đồng An 2, phường Bình Dương, TPHCM Ảnh: HOÀNG HÙNG
Công nhân vận hành dây chuyền sản xuất tại Nhà máy Tôn Đông Á, KCN Đồng An 2, phường Bình Dương, TPHCM Ảnh: HOÀNG HÙNG

Hàng loạt chuyển động mạnh mẽ

Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) ra đời, ngày 17-5-2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển KTTN.

Đây được xem là bước tiến quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN, đặc biệt là DN nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và các mô hình khởi nghiệp sáng tạo. Cùng ngày, Chính phủ ban hành Nghị quyết 139/NQ-CP để triển khai Nghị quyết 198/2025/QH15.

Luật Đầu tư số 143/2025/QH15, được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 11-12-2025, đã ghi dấu ấn nhờ cắt giảm mạnh danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và chuyển từ cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”.

Sau đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư (Luật số 24/2026/QH16) vừa được thông qua ngày 24-8-2026 tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. Theo đó, kể từ ngày 1-3-2027, có 62 ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện được cắt giảm trong tổng số 199 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện hiện nay, nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

dauanhtuan.gif

Luật Phát triển DN nhỏ và vừa (sửa đổi) đang được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi. Trước đó, Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa năm 2017 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng, nhằm hình thành hệ thống chính sách cho khu vực DN chiếm số đông này.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy một số chính sách chưa phát huy đầy đủ hiệu quả; phương thức hỗ trợ còn phân tán, chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu; việc tiếp cận chính sách của DN còn gặp khó khăn và cơ chế đánh giá hiệu quả sau hỗ trợ vẫn chưa rõ nét.

Vì vậy, dự thảo Luật Phát triển DN nhỏ và vừa sửa đổi có những thay đổi căn bản, thông qua việc chuyển từ xây dựng chính sách “hỗ trợ DN” sang “kiến tạo điều kiện thuận lợi để DN phát triển”.

Gỡ “điểm nghẽn” ở khâu thực thi

Có thể nói rằng, những chuyển động mạnh mẽ về thể chế đã tác động tích cực đến DN. Điều này được thể hiện bằng số lượng DN tham gia thị trường. Năm 2025, cả nước có gần 297.500 DN thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng hơn 27% so năm trước, mức tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây.

Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong 8 tháng đầu năm 2026 với hơn 206.000 DN gia nhập thị trường, tăng cả về số lượng DN và số vốn đăng ký kinh doanh. Những con số trên cho thấy tinh thần kinh doanh và khát vọng phát triển của khu vực KTTN đang được khơi dậy mạnh mẽ. Niềm tin của cộng đồng DN vào môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện sau hàng loạt cải cách thể chế.

Để đạt mục tiêu 2 triệu DN vào năm 2030, bên cạnh cải cách thể chế, chất lượng tổ chức thực thi đóng vai trò rất quan trọng. Chỉ khi bộ máy thực thi thực sự đồng hành với DN, các nguồn lực phát triển được khơi thông, thì mới chuyển hóa thành động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.

Vấn đề đáng quan tâm hiện nay không phải thiếu quyết sách hay thiếu công cụ chính sách đủ mạnh, mà là ở khâu thực thi. Cải cách phải được thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở, lấy hiệu quả giải quyết khó khăn cho DN làm thước đo. Quyết tâm cải cách ở cấp Trung ương đã rất rõ ràng, song việc triển khai ở các bộ, ngành và địa phương vẫn chưa theo kịp.

Đơn cử ở cấp địa phương, sự khác biệt không chỉ nằm ở việc ban hành chính sách trên giấy, mà nằm ở tinh thần chủ động kiến tạo và năng lực thực thi của bộ máy chính quyền cơ sở để đồng hành thực chất với DN.

Trong 2 thập niên qua, Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đã trở thành “thước đo” sức khỏe môi trường kinh doanh của các địa phương. Tuy nhiên, khi các tỉnh, thành dần thu hẹp khoảng cách về cải cách hành chính, một câu hỏi lớn được đặt ra: tại sao cùng một khung chính sách, có nơi trở thành “đất lành” để DN tìm đến, có nơi vẫn khiến DN trăn trở?

Đề ra nghị quyết hay ban hành văn bản định hướng là cần thiết, và hầu hết địa phương đều có thể làm tốt. Sự khác biệt thực sự tạo ra giá trị cho nhà đầu tư nằm ở quá trình chuyển hóa từ chính sách thành những thủ tục cụ thể; ở sự kết nối, giao tiếp thực chất giữa bộ máy chính quyền với DN. DN không cần lời hứa trên giấy, họ mong muốn thủ tục hành chính tinh gọn và một tinh thần đồng hành thực tế để giải quyết những dự án cụ thể.

Giảm chi phí, tăng niềm tin

Báo cáo của VCCI hồi giữa năm nay cho thấy, khó khăn liên quan đến chính sách, pháp luật đã gia tăng từ mức gần 17% vọt lên hơn 24%. Nhiều DN rơi vào tình trạng “mù mờ” thông tin khi khả năng dự báo trước sự thay đổi chính sách rất hạn chế, chỉ vỏn vẹn 6-8% DN có thể dự báo ở mức “thường xuyên” hoặc “luôn luôn”.

Chính sách thay đổi quá nhanh, trong khi không phải DN nào cũng có đủ năng lực để thường xuyên cập nhật, nhất là DN nhỏ và siêu nhỏ. Hệ quả là họ mất đi quyền chuẩn bị, khó tham gia góp ý và không thể chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất - kinh doanh.

Bên cạnh đó, chi phí tuân thủ pháp luật vẫn là một thách thức lớn đối với DN, trong đó đáng quan ngại hơn cả là sự "bủa vây" của “chi phí ẩn”. Những khoản chi phí không chính thức phát sinh trong nhiều thủ tục then chốt như: xin giấy phép/điều kiện kinh doanh, xây dựng, xuất nhập khẩu, kết nối hạ tầng và thuế.

Đây là rào cản vô hình nhưng nặng nề, trực tiếp triệt tiêu động lực phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh của DN, nhất là nhóm DN nhỏ và vừa (chiếm khoảng 97% tổng số DN Việt Nam).

Qua nhiều năm khảo sát môi trường kinh doanh, VCCI hiếm khi ghi nhận ý kiến DN đề nghị Nhà nước hỗ trợ tiền. Điều mà họ mong mỏi nhất là được hỗ trợ nhanh chóng về thủ tục hành chính, giảm bớt phiền hà, đồng thời giảm chi phí tuân thủ thủ tục. Đó là đóng thuế theo cách đơn giản, hoàn thuế đúng hạn, được nhớ đến khi thiết kế chính sách và được rời đi trong danh dự nếu chẳng may thất bại.

GS-TS TRẦN THỌ ĐẠT, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân: Thay đổi tư duy, chuyển biến môi trường kinh doanh

Thay đổi lớn nhất sau Nghị quyết 68 không nằm ở một chính sách hỗ trợ cụ thể, mà là thay đổi căn bản trong cách nhìn về KTTN. Khi KTTN được xác định là “một động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế quốc gia, DN không chỉ là đối tượng được quản lý hay hỗ trợ, mà phải được nhìn nhận là chủ thể kiến tạo tăng trưởng, tạo việc làm, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Từ thay đổi nhận thức đó, một chuyển động quan trọng đang diễn ra: từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ quản lý bằng thủ tục sang quản lý theo rủi ro, từ “DN được làm gì” sang nguyên tắc DN được quyền kinh doanh những gì pháp luật không cấm. Đây có lẽ là giá trị thể chế sâu sắc nhất của Nghị quyết 68.

Sau hơn một năm, nhiều điểm nghẽn đã bắt đầu được tháo gỡ: điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính được cắt giảm; phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh; khả năng tiếp cận đất đai, tín dụng, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và thị trường được quan tâm hơn. Quan trọng hơn, niềm tin kinh doanh đã có dấu hiệu cải thiện.

Nhưng, khoảng cách lớn nhất hiện nay vẫn từ chính sách đến thực thi. Trung ương có thể thay đổi một nghị quyết, một luật, một quy định tương đối nhanh. Nhưng thay đổi cách ứng xử của cả bộ máy với DN khó hơn nhiều. Nếu ở địa phương vẫn còn tâm lý sợ trách nhiệm, thủ tục lòng vòng, cách hiểu pháp luật khác nhau, hay DN vẫn phải mất nhiều thời gian và chi phí để tiếp cận đất đai, vốn và giấy phép, thì tinh thần cải cách chưa thực sự đi đến “kilômét cuối cùng”.

Vì vậy, giai đoạn tới không nên đặt trọng tâm vào việc Nhà nước hỗ trợ DN nhiều hơn, mà phải là tạo một môi trường để DN tự lớn lên bằng năng lực của mình. DN cần nhất không phải ưu đãi, mà là quyền tài sản được bảo đảm, luật chơi ổn định, cạnh tranh bình đẳng, thủ tục đơn giản và khả năng tiếp cận các nguồn lực theo nguyên tắc thị trường.

Thước đo cuối cùng của Nghị quyết 68 không phải đã ban hành bao nhiêu chính sách, mà là DN đã tiết kiệm được bao nhiêu thời gian, giảm được bao nhiêu chi phí và có thêm bao nhiêu cơ hội đầu tư, đổi mới và lớn lên.

Nhà nước không thể làm thay DN. Nhưng Nhà nước có thể làm một việc quyết định: tạo ra một thể chế mà trong đó người kinh doanh tử tế không phải xin cơ hội để phát triển, nhưng có quyền và có niềm tin để phát triển. Khi đó, KTTN mới thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế n

Các tin khác