'Đường băng' cho doanh nghiệp dân tộc lớn mạnh

Trong kỷ nguyên mới, rất cần những doanh nghiệp dân tộc đồng hành với đất nước, xây dựng nền kinh tế tự lực, tự cường và độc lập. Tuy nhiên, điều đó cũng đồng nghĩa với việc Nhà nước phải có một chiến lược cụ thể để xây dựng doanh nghiệp dân tộc lớn mạnh.

Những Nghị quyết trụ cột là định hướng để xây dựng và tạo môi trường phát triển cho doanh nghiệp dân tộc.
Những Nghị quyết trụ cột là định hướng để xây dựng và tạo môi trường phát triển cho doanh nghiệp dân tộc.

Tạo môi trường để doanh nghiệp dân tộc phát triển

Theo bà Nguyễn Thị Khuyên, Giám đốc Công ty TNHH Nasaki Việt Nam, doanh nghiệp dân tộc không chỉ được xác định bởi quốc tịch đăng ký, mà còn là doanh nghiệp lấy lợi ích quốc gia, cộng đồng, người lao động Việt Nam làm nền tảng; tự lực, tự cường trong việc làm chủ công nghệ, chuỗi giá trị; kiên trì xây dựng thương hiệu Việt bằng chất lượng, uy tín.

Tinh thần này được thể hiện ở việc dám đầu tư dài hạn, dám đổi mới sáng tạo, dám chịu trách nhiệm và dám cạnh tranh sòng phẳng, không trông chờ những Nghị quyết trụ cột – là định hướng để xây dựng và tạo môi trường phát triển cho doanh nghiệp dân tộc. chờ đặc quyền, nhưng cũng không chấp nhận đứng ngoài cuộc chơi trên sân nhà.

“Tuy nhiên, để có những doanh nghiệp dân tộc lớn mạnh, cần có môi trường chính sách minh bạch, nhất quán và dài hạn vì doanh nghiệp rất lo lắng chính sách, pháp luật thay đổi giữa chừng. Ưu tiên sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp Việt trong các dự án công, nếu sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và giá thành cạnh tranh. Có chương trình quốc gia về nâng tầm doanh nghiệp dân tộc, tập trung vào công nghệ, quản trị, xây dựng thương hiệu quốc tế, bảo vệ thị trường nội địa bằng tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường, xuất xứ rõ ràng, chứ không phải bằng rào cản cực đoan. Doanh nghiệp dân tộc cần được tạo điều kiện để lớn lên một cách công bằng”, bà Khuyên nói.

Khái niệm về doanh nghiệp dân tộc đã được đưa ra thảo luận từ rất nhiều năm trước, tuy nhiên GS.TSKH.NGND Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, điều quan trọng nhất là hiệu quả và giá trị thực chất mà doanh nghiệp mang lại cho đất nước, chứ không phải doanh nghiệp đó có phải là doanh nghiệp dân tộc hay không.

“Không nên giới hạn doanh nghiệp dân tộc trong phạm vi doanh nghiệp lớn, bởi như thế sẽ vô tình làm thiệt thòi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn là lực lượng rất năng động, chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Trong bối cảnh mở rộng quan hệ quốc tế, nếu vẫn giữ cách tiếp cận cũ thì sẽ tự tạo ra bất lợi cho chính mình trong dòng chảy giao thương toàn cầu. Chúng ta cũng không nên vội vàng gắn danh hiệu doanh nghiệp dân tộc cho bất cứ doanh nghiêp nào, mà cần chú trọng vào khâu tạo điều kiện, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, phát triển, để họ đạt được vinh danh và đóng góp hiệu quả nhất cho đất nước”, GS Giang nhấn mạnh.

Cần một chiến lược phát triển doanh nghiệp dân tộc

Khát vọng hùng cường, thịnh vượng đến 2045 được khơi dậy bởi các Nghị quyết trụ cột mà Bộ Chính trị đã ban hành trong năm 2024-2025 và đầu năm 2026. 2026-2030 là giai đoạn mang tính bước ngoặt, định hình cho tương lai của đất nước, vì vậy rất cần có những doanh nghiệp dân tộc và hệ sinh thái phát triển doanh nghiệp để hiện thực hóa khát vọng của đất nước. Theo TS Trần Du Lịch, Chuyên gia kinh tế, để doanh nghiệp lớn mạnh, môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh là yếu tố rất quan trọng.

“Chúng ta nuôi dưỡng doanh nghiệp bằng môi trường kinh doanh chứ không phải bằng những chính sách hỗ trợ. Cần có chính sách liên kết để đoàn kết các doanh nghiệp lại thì mới tạo ra được sức mạnh doanh nghiệp dân tộc to lớn. Đừng để doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ như những củ khoai tây trong cùng một cái sọt”, TS Lịch cho hay.

Để có những doanh nghiệp dân tộc lớn mạnh và vươn xa, thì thể chế phải đi trước mở đường. Đây là điều quan trọng cốt lõi để có những doanh nghiệp dân tộc trong kỷ nguyên mới, TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (nay là Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, thuộc Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) cho rằng, một thế chế phù hợp sẽ mở rộng không gian phát triển và tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp, từ đó tạo động lực huy động nguồn lực xã hội phục vụ cho các mục tiêu phát triển.

“Chúng ta đã nhận thấy rằng, thế chế là rào cản, điểm nghẽn của quá trình phát triển đất nước nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Nhưng bao năm nay chúng ta không đột phá được, ngược lại thể chế còn trở thành điểm nghẽn. Nguyên nhân là do hệ thống pháp luật của chúng ta xây dựng trên khung khổ tư duy là hiểu biết đến đâu, quản đến đó và mở cho làm đến đó, không quản được thì cấm, cho nên từ cái tư duy đó đã đặt ra rất nhiều quy định, công cụ để quản, mà công cụ để quản tức là tạo ra các rào cản về thủ tục hành chính. Tu duy này cần dứt khoát phải loại bỏ”, TS Cung nhấn mạnh.

Doanh nghiệp dân tộc là doanh nghiệp gánh trên vai sứ mệnh phát triển kinh tế đất nước. Việt Nam đã có các doanh nghiệp thành công, nhiều tập đoàn lớn vươn ra thế giới, nhưng để hình thành lực lượng doanh nghiệp dân tộc vững mạnh, có khả năng dẫn dắt các doanh nghiệp khác và chuỗi giá trị, tạo nền tảng cho nền kinh tế tự chủ, tự cường, thì cần một chiến lược phát triển doanh nghiệp dân tộc – tức là đặt việc xây dựng doanh nghiệp trong tầm quan trọng của quốc gia với những cơ chế, chính sách ưu tiên, tạo cơ hội để doanh nghiệp vươn tầm. Việc này cần một sự chuyển hóa mạnh mẽ từ tầm nhìn đến kiến tạo thể chế thông thoáng, minh bạch cùng cơ chế hợp tác công - tư linh hoạt và công bằng, quản trị doanh nghiệp hiện đại, nhân văn; từ việc tạo ra giá trị kinh tế sang kiến tạo giá trị quốc gia, để nuôi dưỡng, khơi dậy tinh thần doanh nhân dân tộc, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám tiên phong vì lợi ích quốc gia.

Các tin khác