TỪ CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI ĐẾN KIẾN TẠO NĂNG LỰC QUỐC GIA

Bài 1: Việt Nam hướng tới vị thế cao hơn trong thu hút FDI

LTS: Việt Nam đứng trước bước ngoặt mới khi bước vào giai đoạn tăng tốc và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Những chuyển động này mở ra cơ hội lịch sử để đón nhận làn sóng FDI thế hệ mới. Tuy nhiên, thu hút FDI không còn đơn thuần là câu chuyện bổ sung vốn cho tăng trưởng, mà là bài toán năng lực quốc gia.

C7595D8C-240D-4D30-B9C4-E0578FECD352.png
Ảnh minh họa

Vẫn là điểm đến hấp dẫn

Theo Cục Thống kê, 5 tháng đầu năm 2026, tổng vốn FDI thực hiện ước đạt 9,75 tỷ USD. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của năm tháng đầu năm trong 5 năm qua. Lũy kế đến thời điểm hiện nay, Việt Nam có gần 46.530 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 543 tỷ USD, vốn thực hiện lũy kế đạt khoảng 357,6 tỷ USD và có khoảng 23.000 doanh nghiệp FDI đang hoạt động.

Khu vực FDI đang giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam khi đóng góp hơn 20% GDP; 15-18% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, hơn 70% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho hơn 5 triệu lao động.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã thành công với chiến lược “mở cửa để tăng trưởng” dựa trên 3 trụ cột: ổn định chính trị ổn định, ưu đãi thuế, chi phí lao động cạnh tranh. Mô hình này phù hợp trong giai đoạn nền kinh tế cần vốn, công nghệ, việc làm và mở rộng năng lực sản xuất.

Nhờ đó, Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của đầu tư, từng bước trở thành một trung tâm sản xuất mới của khu vực, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu và duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm. Khu vực FDI đã trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong gần 40 năm qua.

Thay đổi tư duy FDI

Bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện đang thay đổi rất nhanh. Các tập đoàn đa quốc gia không chỉ tìm kiếm nơi có thuế thấp hay mặt bằng sản xuất rẻ, mà chú trọng chất lượng thể chế, hạ tầng số, nguồn nhân lực công nghệ cao, khả năng đổi mới sáng tạo và mức độ kết nối với hệ sinh thái DN nội địa.

Nói cách khác, cuộc đua thu hút FDI đang chuyển từ “giảm chi phí” sang “nâng năng lực quốc gia”. “Nếu không thay đổi tư duy này, Việt Nam có thể tiếp tục tăng trưởng nhanh về lượng nhưng vẫn khó bứt phá về chất, khả năng cao là tiếp tục đứng ở các công đoạn giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu”, GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kinh tế Việt Nam nhấn mạnh.

Một thay đổi quan trọng nhất của tư duy phát triển hiện nay là FDI không còn là mục tiêu tự thân. Vấn đề cốt lõi không còn nằm ở “bao nhiêu vốn”, mà là “vốn đó tạo ra năng lực gì cho nền kinh tế. Tư duy “FDI càng nhiều càng tốt” đang chuyển dần sang “lựa chọn có chiến lược”.

“Chúng ta đang có quyền chọn”, TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế trung ương CIEM nhấn mạnh: "Chọn FDI nào giúp nâng cấp năng lực quốc gia. Chọn theo chất lượng và khả năng đóng góp thực chất vào nền kinh tế và liên kết với khu vực DN trong nước".

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: "Chúng tôi không chỉ đánh giá và quan tâm nhà đầu tư mang bao nhiêu vốn vào Việt Nam, mà quan trọng hơn là mang công nghệ gì, tạo ra giá trị gia tăng gì, đào tạo được nguồn nhân lực ra sao, kết nối được bao nhiêu DN nội tham gia chuỗi cung ứng, đóng góp như thế nào cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế."

Dòng vốn FDI cần được lựa chọn có điều kiện, phù hợp với định hướng phát triển dài hạn của Việt Nam thay vì tiếp cận theo hướng cơ hội ngắn hạn”. Theo đó, cần ưu tiên những dự án FDI có công nghệ cao, cam kết đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nâng tỷ lệ nội địa hóa, gắn với đào tạo nhân lực, tạo liên kết chuỗi với DN Việt Nam chuyển giao công nghệ, dữ liệu, kỹ năng quản trị.

Đây không chỉ là những tiêu chí kỹ thuật trong thẩm định dự án, mà phải trở thành nguyên tắc chính sách trong thu hút và sử dụng FDI giai đoạn mới. Thực tế, tư duy phát triển thể hiện qua các định hướng gần đây của Chính phủ đã nhấn mạnh rõ hơn vai trò của công nghệ chiến lược, AI, bán dẫn, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ công nghệ trong mô hình tăng trưởng mới.

"Đây là sự thay đổi có ý nghĩa rất lớn, bởi trong chu kỳ cạnh tranh toàn cầu hiện nay, quốc gia nào làm chủ được công nghệ chiến lược sẽ có vị thế cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, và giữ lại nhiều giá trị gia tăng hơn", GS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân phân tích.

Thu hút FDI thế hệ mới

Trong bối cảnh đó, FDI cần là công cụ nâng cấp công nghệ, kênh đào tạo nhân lực, mắt xích kết nối DN nội địa vào chuỗi giá trị toàn cầu và nền tảng để nâng cao năng suất dài hạn của nền kinh tế. "FDI thế hệ mới cùng Việt Nam tạo ra giá trị mới, năng lực mới và vị thế mới trong chuỗi giá trị toàn cầu”, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh.

Toàn_cảnh_FDI_Việt_Nam.png
Ảnh minh họa

Theo GS. Trần Thọ Đạt, chính sách FDI phải chuyển theo hướng “đổi ưu đãi lấy năng lực”. Một dự án FDI chỉ thực sự có giá trị chiến lược khi không chỉ tạo ra hàng hóa xuất khẩu, mà còn góp phần nâng trình độ sản xuất, kỹ năng quản trị, năng lực nghiên cứu - phát triển và giúp DN nội địa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Việt Nam cần hướng tới vị thế cao hơn, một trung tâm sản xuất thông minh, trung tâm đổi mới sáng tạo và trung tâm công nghệ mới của khu vực. Đó mới là ý nghĩa thật sự của một chiến lược FDI thế hệ mới. Suy cho cùng, câu chuyện FDI là bài toán về tương lai năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam, FDI thực sự tạo ra năng lực nội sinh.

Tư duy phát triển mới đặt Việt Nam trước một yêu cầu rõ ràng: thiết kế lại cách thu hút FDI để tạo ra năng lực nội sinh, liên kết giữa khu vực FDI và DN nội địa bởi “điểm nghẽn lớn nhất” của mô hình FDI hiện nay là liên kết: khu vực FDI tăng rất nhanh, nhưng DN nội địa vẫn chưa thực sự bước được vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Các tin khác