Chủ động đáp ứng thay vì ứng phó khi rào cản xuất hiện

(ĐTTCO) - Việc nhiều tập đoàn bán lẻ và nhà mua hàng quốc tế liên tiếp đến Việt Nam thời gian qua cho thấy cơ hội xuất khẩu đang rộng mở. 

Tuy nhiên, khi lợi thế thuế quan từ các hiệp định thương mại tự do dần thu hẹp, cơ hội chỉ có thể chuyển hóa thành đơn hàng thực tế nếu doanh nghiệp chủ động nâng cao năng lực sản xuất, kiểm soát chất lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng quốc tế.

Chinh phục bằng chất lượng, chuẩn mực

Theo bà Mai Kiều Liên, Tổng Giám đốc Vinamilk, với kinh nghiệm 50 năm phát triển thị trường, doanh nghiệp không thể cạnh tranh bền vững bằng quy mô hay giá bán mà phải liên tục đầu tư nâng cao năng lực sản xuất và đổi mới công nghệ.

Một dây chuyền của Nhà máy sữa Vinamilk tại phường Bến Cát, TPHCM. Ảnh: Hoàng Hùng

Hiện Vinamilk sở hữu 16 nhà máy, 15 trang trại đạt chuẩn quốc tế Global S.L.P., chủ động vùng nguyên liệu với khoảng 130.000 con bò sữa, đồng thời đầu tư mạnh cho nghiên cứu dinh dưỡng, công nghệ chế biến và phát triển sản phẩm. Nhờ đó, doanh nghiệp hiện cung ứng hàng trăm sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu đến 65 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Hiệu quả của chiến lược đầu tư này được phản ánh rõ trong kết quả kinh doanh của quý I-2026: doanh thu hợp nhất đạt 16.149 tỷ đồng (tăng 24,6% so với cùng kỳ), trong đó doanh thu từ thị trường nước ngoài đạt 4.069 tỷ đồng (tăng 39,1%), cao gần gấp đôi tốc độ tăng của thị trường trong nước.

“Khi người tiêu dùng và các tập đoàn phân phối ngày càng coi trọng chất lượng, an toàn thực phẩm và phát triển bền vững, doanh nghiệp cũng phải chuyển từ tư duy mở rộng sản lượng sang đầu tư cho khoa học công nghệ, nghiên cứu phát triển và đổi mới sản phẩm. Muốn tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thương hiệu Việt chỉ có thể chinh phục thị trường bằng chất lượng và các chuẩn mực quốc tế”, bà Mai Kiều Liên nhấn mạnh.

Để đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các nhà nhập khẩu, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng xuất khẩu, Tổng Giám đốc Nafoods Group Nguyễn Mạnh Hùng, cho biết doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát an toàn thực phẩm.

Từ kim ngạch xuất khẩu khoảng 20 triệu USD năm 2015, doanh nghiệp đã nâng giá trị xuất khẩu lên hơn 200 triệu USD sau một thập niên. Riêng quý I-2026, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp đạt gần 31 triệu USD, tăng hơn 70% so với cùng kỳ. Hiện Hoa Kỳ chính thức mở cửa cho quả chanh leo Việt Nam và EU tiếp tục gia tăng nhập khẩu rau quả, tạo thêm động lực để doanh nghiệp mở rộng xuất khẩu.

Trong bối cảnh các tập đoàn phân phối quốc tế đánh giá toàn bộ chuỗi sản xuất thay vì chỉ đánh giá sản phẩm cuối cùng, doanh nghiệp muốn mở rộng thị trường buộc phải đầu tư đồng bộ từ vùng nguyên liệu, công nghệ, quản trị chất lượng đến truy xuất nguồn gốc. Nội lực vì thế không còn là lợi thế dài hạn mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Động lực từ các “sếu đầu đàn”

Khi cạnh tranh đang chuyển từ sản phẩm sang chuỗi giá trị, lợi thế không còn được đo bằng số lượng doanh nghiệp xuất khẩu, mà bằng khả năng hình thành những doanh nghiệp dẫn dắt đủ sức nâng cấp cả hệ sinh thái sản xuất.

Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM (HUBA), khi các “sếu đầu đàn” làm chủ công nghệ, tiêu chuẩn, thương hiệu và thị trường, họ không chỉ gia tăng giá trị cho chính mình mà còn kéo theo mạng lưới doanh nghiệp vệ tinh cùng nâng cao năng lực, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Theo các chuyên gia, khi doanh nghiệp làm chủ vùng nguyên liệu, công nghệ, tiêu chuẩn và logistics, còn Nhà nước hoàn thiện hạ tầng, thể chế và hệ thống tiêu chuẩn, hàng Việt sẽ không chỉ đáp ứng yêu cầu của từng thị trường mà còn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Khi đó, những chuyến khảo sát của các nhà mua hàng quốc tế sẽ không chỉ dừng ở hoạt động kết nối mà được chuyển hóa thành các hợp đồng dài hạn, có giá trị gia tăng cao, góp phần nâng vị thế hàng Việt trên bản đồ thương mại thế giới.

Ngành gỗ là minh chứng rõ cho vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp đầu tàu. Theo ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch HĐQT AA Corporation, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ngành gỗ đã từng bước chuyển từ gia công theo đơn đặt hàng (OEM) sang tự thiết kế, phát triển sản phẩm và xây dựng thương hiệu (ODM/OBM), đưa kim ngạch xuất khẩu từ dưới 200 triệu USD năm 1999 lên khoảng 17 tỷ USD năm 2025. Sản phẩm của ngành hiện diện tại hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Thành công này cho thấy khi doanh nghiệp đầu tàu đủ mạnh, toàn bộ chuỗi cung ứng cũng được nâng cấp về công nghệ, thiết kế, tiêu chuẩn và năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, để sức mạnh của doanh nghiệp đầu tàu lan tỏa thành năng lực cạnh tranh của cả chuỗi cung ứng, nỗ lực của doanh nghiệp cần được hỗ trợ bằng một hệ sinh thái chính sách đồng bộ.

Các doanh nghiệp kiến nghị Nhà nước sớm hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn trong nước theo hướng tiệm cận quy định của các thị trường nhập khẩu; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và hệ thống cảnh báo sớm đối với các quy định SPS, hàng rào kỹ thuật và các biện pháp phòng vệ thương mại.

Đây sẽ là nền tảng giúp doanh nghiệp chủ động đáp ứng những “luật chơi” mới của thương mại quốc tế thay vì chỉ ứng phó khi rào cản xuất hiện.

- Ông Trịnh Việt Hùng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Tổ chức lại toàn bộ chuỗi giá trị

Muốn xuất khẩu phát triển bền vững, doanh nghiệp phải chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp, lấy nhu cầu thị trường làm căn cứ để tổ chức lại toàn bộ chuỗi giá trị: từ giống, vùng nguyên liệu, sản xuất, thu mua, chế biến, bảo quản, logistics đến phân phối và xúc tiến thương mại.

Lợi thế cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong giai đoạn tới không còn nằm ở sản lượng mà ở chất lượng, giá trị gia tăng, chế biến sâu, thương hiệu và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát dư lượng, giảm phát thải và phát triển xanh.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng minh bạch, chuyển mạnh sang quản trị bằng dữ liệu, đẩy nhanh cấp và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc; đồng thời tăng cường cảnh báo sớm về hàng rào kỹ thuật và các vụ việc phòng vệ thương mại để doanh nghiệp chủ động thích ứng.

Song song đó, bộ cam kết đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp, kiên quyết xử lý các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực trong thực thi công vụ, giảm chi phí tuân thủ, tạo môi trường đầu tư minh bạch để doanh nghiệp yên tâm mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực xuất khẩu.

- Bà Phan Thị Thắng, Thứ trưởng Bộ Công thương: Nỗ lực kéo giảm chi phí logistics

Hiện chi phí logistics của Việt Nam vẫn ở mức khoảng 16% GDP, cao hơn đáng kể so với nhiều nước trong khu vực. Điều này đã khiến doanh nghiệp giảm năng lực cạnh tranh do gánh chịu áp lực lớn từ cước vận tải, chi phí nhiên liệu và biến động địa chính trị.

Giảm chi phí logistics chính là dư địa quan trọng nhất để hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh và tạo thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do vậy, Bộ Công thương sẽ phối hợp các bộ, ngành và địa phương tháo gỡ các điểm nghẽn logistics; tăng cường kết nối cảng biển, trung tâm logistics, khu công nghiệp và cửa khẩu; phát triển vận tải đa phương thức; thúc đẩy chuyển đổi số, logistics xanh và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp logistics với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các hãng tàu và cảng biển.

Mục tiêu là từng bước đưa chi phí logistics về khoảng 12% GDP, qua đó tạo dư địa để doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Đối với TPHCM - đầu tàu xuất khẩu của cả nước, Bộ Công thương khuyến nghị cần tiếp tục bảo đảm nguồn nguyên liệu cho sản xuất, đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ logistics.

Đồng thời, thành phố phải kiểm soát chặt nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa, đáp ứng các yêu cầu mới về phát triển xanh, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường nhập khẩu; đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới công nghệ và phối hợp các bộ, ngành tháo gỡ khó khăn cho các dự án công nghiệp, tạo thêm động lực tăng trưởng cho sản xuất và xuất khẩu những tháng cuối năm.

- Ông Bruno Jaspaert, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam: Minh bạch nguồn gốc, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường

Gần một nửa giá trị thương mại giữa Việt Nam và EU trong suốt hơn 30 năm qua được tạo ra chỉ trong 6 năm kể từ khi EVFTA có hiệu lực. Cụ thể, trong tổng kim ngạch thương mại song phương hơn 900 tỷ USD giai đoạn 1995 đến tháng 6-2026 có tới 383,8 tỷ USD (tương đương 42,6%) được ghi nhận từ sau tháng 8-2020.

Điều này cho thấy khi các rào cản tiếp cận thị trường được gỡ bỏ, tốc độ hội nhập thương mại giữa hai bên đã tăng mạnh và Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng của châu Âu. Việc EU bước sang năm thứ bảy của EVFTA và hoàn tất lộ trình tự do hóa đối với 99% dòng thuế dành cho hàng hóa Việt Nam sẽ tiếp tục mở rộng dư địa hợp tác thương mại và đầu tư trong thời gian tới.

Tuy nhiên, để tận dụng tối đa cơ hội này, doanh nghiệp Việt cần tiếp tục nâng cao năng lực sản xuất, bảo đảm chất lượng ổn định, minh bạch truy xuất nguồn gốc, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường và phát triển bền vững. Đây sẽ là những yếu tố quyết định để các nhà mua hàng châu Âu lựa chọn và duy trì Việt Nam như một đối tác chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

ÁI VÂN ghi

Các tin khác