Lãi suất mới chỉ giảm ở lĩnh vực ưu tiên

(ĐTTCO) - Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên tục chỉ đạo các NH giảm lãi vay để hỗ trợ doanh nghiệp (DN) sản xuất, nhưng nhiều DN cho rằng vẫn phải đứng ngoài cuộc vì lãi giảm chỉ bó hẹp trong nhóm ưu tiên nhưng phải có điều kiện.

Ưu đãi có điều kiện

Mới đây, bà Lâm Thúy Ái, Phó Chủ tịch Hội doanh nhân Sài Gòn TPHCM, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Mebi Farm, nhận thông báo từ NH gửi đến công ty về việc điều chỉnh lãi suất. Bà Ái trân trọng sự đồng hành này, nhưng vẫn thấp thỏm vì đó mới là thông báo điều chỉnh sắp tới. Hiệu quả cụ thể còn phải nhìn từ mức lãi suất thực tế và khoản vay được áp dụng.

Theo bà Lâm Thúy Ái, trăn trở lớn nhất của người đứng đầu DN không chỉ việc lãi suất trên giấy tờ được công bố hấp dẫn ra sao, mà ở chỗ vốn có về kịp lúc để “cứu” nhịp sản xuất hay không. Trong lĩnh vực nông nghiệp và chăn nuôi, vòng quay vốn không được phép dừng lại, dù chỉ một ngày. Tiền mua thức ăn cho đàn vật nuôi, chi phí chăm sóc và tiền công cho người lao động phải xuất quỹ đều đặn mỗi sáng.

Nếu vốn rẻ nhưng giải ngân chậm một nhịp, DN vẫn có nguy cơ đứt gãy dòng tiền vận hành. Chính vì vậy, mức lãi suất không đơn thuần là con số danh nghĩa trên hợp đồng tín dụng ngắn hạn, mà phải tính trên dư nợ thực tế trong toàn bộ chu kỳ sản xuất, nó tác động trực tiếp đến giá thành đầu ra, dòng tiền duy trì vận hành và khả năng tái đầu tư của đơn vị.

Ông Phạm Quang Anh, Giám đốc Công ty TNHH May mặc Dony, cho biết khi nghe thông tin về các gói vay lãi suất thấp, ông tìm hiểu thì NH cho biết chỉ dành riêng cho một số nhóm ngành nhất định. Việc bị ràng buộc bởi các tiêu chí phân loại ngành nghề và quy định giải ngân ngặt nghèo, đang khiến khối DN vừa và nhỏ rất khó chạm tay vào dòng vốn hỗ trợ này.

Ông Quang Anh ví dụ, để hưởng lãi suất ưu đãi 6%/năm trong 3 tháng đầu, NH yêu cầu DN chuyển toàn bộ nguồn thu tiền mặt về và cam kết doanh số thanh toán quốc tế qua tài khoản của NH để NH tận dụng nguồn vốn và thu phí dịch vụ như phí thanh toán quốc tế, phí chuyển đổi ngoại tệ, phí quản lý tài khoản. Đồng thời, NH khuyến khích DN mua bảo hiểm cho tài sản thế chấp.

Nhưng điều đáng lo nhất là lãi suất thả nổi sau ưu đãi. Ông Quang Anh từng rơi vào trường hợp lúc đầu vay thì lãi suất chỉ 7-8%/năm, nhưng vài tháng sau tăng lên 10-14%/năm.

Nếu tính toàn bộ chi phí phát sinh, chi phí vốn bình quân cả năm không hề rẻ. Bởi mức biến động lãi suất thả nổi quá lớn khiến DN không thể xoay xở, có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào. Chính vì vậy, trong giai đoạn khó khăn hiện nay nhiều DN không dám vay vốn để mở rộng hay đầu tư.

DN sợ “lãi suất thả nổi”

Để chính sách hỗ trợ hay ưu đãi đi vào thực chất, bà Lâm Thúy Ái cho rằng khi phân loại ngành nghề, các NH cần bám sát mục đích sử dụng vốn và đối chiếu trực tiếp với thực tế hoạt động, thay vì chỉ căn cứ cứng nhắc vào tên gọi hay mã ngành để ưu đãi hay hỗ trợ.

Đơn cử một khoản vay mua máy móc dài hạn có tính chất rất khác với khoản vốn lưu động mua cám, con giống cần xoay vòng nhanh. Nếu NH chỉ nhìn vào mã ngành đăng ký mà không đối chiếu mục đích sử dụng vốn trên thực tế, DN rất dễ bị từ chối hoặc rơi vào những gói tín dụng không đúng ưu đãi.

Tuy nhiên, cũng theo bà Bà Lâm Thúy Ái, vướng mắc không chỉ đến từ phía NH, mà DN cũng có trách nhiệm minh bạch hồ sơ tài chính, chứng minh phương án sản xuất kinh doanh khả thi và bảo đảm năng lực trả nợ đúng hạn.

Do vậy, NH phải công khai rõ tiêu chí ngay từ đầu, chuẩn hóa quy trình hướng dẫn và nêu thời hạn phản hồi cụ thể. Kỳ vọng lớn nhất của cộng đồng DN hiện nay là rút ngắn tối đa khoảng cách từ khi gói tín dụng ưu đãi được công bố, đến khi vốn thực sự được đưa vào dây chuyền sản xuất.

Ông Phạm Quang Anh kiến nghị, để dòng vốn rẻ thực sự đến được với DN vừa và nhỏ có nhu cầu vốn thật, chính sách không nên chỉ dừng ở nhóm ưu tiên hay những lời kêu gọi. DN đều mong lãi suất càng thấp càng tốt, nhưng điều họ sợ nhất là lãi suất biến động mạnh một cách bất ngờ, phá vỡ kế hoạch tài chính đã xây dựng.

Không DN nào có thể lập kế hoạch khi mọi thứ đột ngột tăng gấp rưỡi, gấp đôi. Biến động lãi suất là quy luật tất yếu của thị trường, DN không kỳ vọng lãi suất cố định. Nhưng mong rằng sự biến động phải có dự báo, có lộ trình, thay vì "giật" bất ngờ.

Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - NH, Trường Đại học Nguyễn Trãi, cho rằng để ưu đãi đến được với DN, cần chuyển từ việc đếm số lượng gói vay và mức lãi suất thấp nhất sang kết quả tiếp cận vốn: DN nào được vay, giải ngân bao nhiêu, thời gian xử lý thế nào và chi phí thực tế ra sao. NH cần công khai rõ lĩnh vực, kỳ hạn, đối tượng, hồ sơ, thời gian hưởng ưu đãi, lãi suất sau thời gian ưu đãi và các khoản phí.

Đối với nhu cầu đầu tư 3-5 năm, Theo ông Nguyễn Quang Huy, NH có thể thiết kế sản phẩm theo lộ trình: cố định lãi suất trong giai đoạn đầu, sau đó điều chỉnh theo công thức minh bạch, có biên độ và lịch rà soát rõ ràng. Cách này giúp DN lập kế hoạch dòng tiền, đồng thời để NH quản trị rủi ro biến động lãi suất và kỳ hạn.

Chính sách chỉ tạo chuyển biến rõ rệt khi DN tiếp cận được vốn đúng thời điểm, với kỳ hạn phù hợp và chi phí dễ dự liệu; đồng thời NH vẫn bảo đảm thẩm định thận trọng, duy trì chất lượng tín dụng và an toàn hệ thống.

Các tin khác