Kiểm soát lạm phát không dồn gánh nặng lên lãi suất

(ĐTTCO) - Với lạm phát khoảng 4,75% và tăng trưởng tín dụng khoảng 12% đến cuối tháng 10, Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa kiểm soát giá cả, vừa bảo đảm vốn cho tăng trưởng.

Trong khi doanh nghiệp (DN) cần lãi suất hợp lý để duy trì sản xuất, mở rộng đầu tư và tạo việc làm. Do vậy chính sách tài khóa cần chia sẻ trách nhiệm kiềm chế lạm phát, tạo dư địa giảm lãi suất.

Công cụ tài khóa

Theo lẽ thông thường, mỗi khi nền kinh tế có dấu hiệu lạm phát, Chính phủ các quốc gia thường tăng lãi suất để kiểm soát cung tiền, góp phần kiềm chế lạm phát. Biện pháp này thường áp dụng đối với các quốc gia thiếu vắng công cụ tài khóa hỗ trợ bình ổn giá và cơ chế điều tiết dòng tiền chưa phát huy hiệu quả.

Với Việt Nam, có lợi thế trong điều tiết thị trường nhờ hệ thống DN nhà nước hiện diện ở nhiều lĩnh vực then chốt như tài chính, năng lượng và hàng hóa thiết yếu. Đây là điều kiện thuận lợi để Nhà nước tác động đến nguồn cung, bình ổn giá cả, giảm áp lực phải tăng lãi suất nhằm kiểm soát dòng tiền.

Nếu chỉ dựa vào tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát, DN sẽ chịu chi phí vốn cao, thu hẹp đầu tư và sản xuất. Trong khi đó, mở rộng nguồn cung vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa góp phần ổn định giá cả. Vì vậy, cần phát huy chính sách tài khóa và các chương trình bình ổn thị trường để tạo dư địa giảm lãi suất.

Đầu tháng 11, Chính phủ có các biện pháp giảm giá điện, xăng dầu và thuế. Những biện pháp này góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng sức mua và hỗ trợ DN mở rộng hoạt động. Trong đó, giảm thuế là công cụ tài khóa, còn điều chỉnh giá điện, xăng dầu thuộc các biện pháp điều tiết giá và thị trường.

Như vậy cần phát huy vai trò DN nhà nước trong những ngành hàng tác động lớn đến mặt bằng giá. Thông qua dự trữ, tăng cung ứng và mở rộng phân phối, các DN này có thể góp phần cân đối cung cầu, hạn chế sức ép tăng giá.

Điển hình, hệ thống Saigon Co.op cùng các nhà bán lẻ lớn có thể tiên phong triển khai chương trình bình ổn, giảm giá diện rộng vào mùa mua sắm cuối năm. Khi các hệ thống lớn chủ động giảm giá, DN tư nhân cũng chịu áp lực cạnh tranh, qua đó tạo hiệu ứng giảm giá trên thị trường. Nhà nước có thể khuyến khích bằng chính sách hỗ trợ và ghi nhận những DN tích cực tham gia.

Các chương trình bình ổn cần xác định rõ nhiệm vụ, thời hạn, mức giá và sản lượng cam kết. Chi phí phát sinh phải được tính toán minh bạch, đồng thời khuyến khích DN tư nhân tham gia để mở rộng nguồn cung và tăng tính cạnh tranh.

Sự phối hợp này tạo ra tác động lan tỏa. Bình ổn giá giúp giảm áp lực lạm phát, tạo dư địa hạ lãi suất. Vốn rẻ hơn khuyến khích DN đầu tư, mở rộng sản xuất. Nguồn cung tăng trở lại góp phần ổn định giá cả, tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng.

Giảm lãi suất cho vay bền vững

Trong nhiều năm, lãi suất cho vay tại Việt Nam duy trì ở mức tương đối cao, cả danh nghĩa lẫn thực tế. Muốn giảm lãi suất bền vững, cần giải quyết từ cơ cấu nguồn vốn và phân bổ tín dụng. Khi ngân hàng sử dụng quá nhiều vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn hoặc tập trung tín dụng vào hoạt động đầu cơ, dòng vốn bị giam giữ trong tài sản, làm gia tăng áp lực thanh khoản và hạn chế nguồn lực cho sản xuất kinh doanh.

Chi phí vốn tăng khiến dư địa giảm lãi suất cho vay thu hẹp, hình thành vòng luẩn quẩn: cạnh tranh huy động đẩy chi phí vốn lên cao, kéo theo lãi suất cho vay tăng, làm suy giảm khả năng đầu tư và trả nợ của DN. Khi cơ cấu vốn mất cân đối và phân bổ tín dụng kém hiệu quả, là những nguyên nhân quan trọng khiến lãi suất khó giảm bền vững.

Để bảo đảm thanh khoản, ngân hàng phải tăng huy động tiền gửi có kỳ hạn, phát hành giấy tờ có giá hoặc vay trên thị trường liên ngân hàng. Giải pháp căn cơ là ưu tiên tín dụng cho sản xuất kinh doanh hiệu quả, đồng thời phát triển dịch vụ thanh toán và quản lý dòng tiền.

Khi DN mở rộng hoạt động, các giao dịch bán hàng, thanh toán, trả lương diễn ra thường xuyên, tạo điều kiện gia tăng tiền gửi không kỳ hạn (CASA), giúp ngân hàng có thêm nguồn vốn chi phí thấp.

Lợi thế CASA giúp ngân hàng duy trì lãi suất cho vay thấp mà vẫn bảo đảm hiệu quả kinh doanh. Chẳng hạn, huy động CASA với chi phí 0,25%/năm và cho vay ở mức 3,25%/năm tạo chênh lệch lãi suất 3 điểm phần trăm; trong khi huy động tiền gửi có kỳ hạn với lãi suất 6%/năm và cho vay 9%/năm cũng tạo chênh lệch 3 điểm phần trăm. Nhưng đây chỉ là chênh lệch lãi suất minh họa, không phải cách tính trực tiếp NIM. Như vậy, lãi suất cho vay cao chưa chắc mang lại hiệu quả cao hơn.

Hướng đi có lợi cho cả ngân hàng và DN là hình thành vòng tương tác tích cực: chi phí vốn thấp giúp giảm lãi suất cho vay, thúc đẩy sản xuất; sản xuất mở rộng tạo thêm dòng tiền thanh toán, gia tăng CASA; CASA tăng lại góp phần giảm chi phí vốn và duy trì lãi suất thấp. Khi vòng tương tác này vận hành hiệu quả, ngân hàng và DN cùng phát triển.

Tuy nhiên, CASA không phải nguồn vốn ổn định tuyệt đối vì khách hàng có thể rút bất cứ lúc nào. Do đó, ngân hàng phải quản trị thanh khoản, cân đối kỳ hạn và nâng cao chất lượng tín dụng. Nếu vốn tiếp tục tập trung quá mức vào đầu cơ hoặc các khoản vay dài hạn thiếu nguồn tài trợ phù hợp, áp lực huy động và lãi suất cao sẽ kéo dài, gây bất lợi cho DN sản xuất, nhất là DN nhỏ và vừa.

Tín dụng trung, dài hạn vẫn cần thiết để mở rộng năng lực sản xuất, nhưng phải gắn với cơ cấu nguồn vốn phù hợp và sự phát triển của thị trường vốn. Vì vậy, giảm lãi suất bền vững đòi hỏi đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ tín dụng, kiểm soát vốn đầu cơ, phát triển CASA và đa dạng hóa nguồn tài trợ dài hạn.

Kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng cần hội tụ vào mục tiêu mở rộng năng lực sản xuất. Chính sách tài khóa hỗ trợ bình ổn giá, DN nhà nước góp phần bảo đảm nguồn cung, còn hệ thống ngân hàng cung ứng vốn với lãi suất hợp lý. Khi sản xuất mở rộng, hàng hóa dồi dào và chi phí giảm, nền kinh tế sẽ có nền tảng để duy trì tăng trưởng cao đi đôi với ổn định giá cả.

Các tin khác