Những nội dung sửa đổi lần này nhằm thể chế hóa toàn diện Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 8-6-2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
4 trụ cột cải cách lớn
Cho đến nay mặc dù khu vực kinh tế FDI đã trở thành động lực tăng trưởng quan trọng đối với kim ngạch xuất khẩu và góp phần giải quyết việc làm, nhưng sự vận hành mang tính chất biệt lập vẫn tồn tại dai dẳng.
Đó là mối liên kết giữa các tập đoàn đa quốc gia và khu vực kinh tế tư nhân trong nước chưa đạt được độ gắn kết hữu cơ cần thiết, giá trị gia tăng nội địa còn ở mức khiêm tốn. Cùng với đó là nguy cơ thường trực về chuyển giá, trốn thuế và tiếp nhận các công nghệ trung bình, hoặc gây áp lực tiêu cực lên tài nguyên, môi trường.
Đặt trong bối cảnh phân mảnh địa chính trị toàn cầu và sự tái cấu trúc sâu sắc các chuỗi cung ứng công nghệ cao, Nghị quyết 10-NQ/TW đã xác lập sự thay đổi căn bản trong hệ thống quan điểm chỉ đạo. Và dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư thể hiện nỗ lực luật hóa các định hướng chiến lược thành những chế định quy phạm, tập trung ở 4 trụ cột cải cách lớn.
Thứ nhất, đề xuất áp dụng quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt (fast-track) cho công nghệ chiến lược đối với dự án tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, hoặc các dự án công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu.
Thứ hai, đề xuất ưu đãi theo kết quả đầu ra và luật hóa Quỹ hỗ trợ đầu tư. Cụ thể, dự thảo khẳng định nguyên tắc ưu đãi áp dụng có thời hạn gắn với kết quả thực hiện cam kết về nghiên cứu và phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ và nội địa hóa. Nhà nước chi trả tài chính trực tiếp cho chi phí đào tạo nhân lực, R&D, phát triển nhà cung ứng. Bên cạnh đó, dự thảo chính thức luật hóa việc thành lập Quỹ hỗ trợ đầu tư nhằm chủ động ứng phó với Thuế tối thiểu toàn cầu.
Thứ ba, đề xuất cho phép Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh dùng ngân sách địa phương hỗ trợ trực tiếp chi phí đào tạo lao động cho doanh nghiệp FDI, tháo gỡ rào cản của Luật Ngân sách nhà nước; cho phép áp dụng chính sách khấu hao nhanh thiết bị và kéo dài thời hạn dự án hạ tầng khu công nghiệp sinh thái lên tới 70 năm.
Thứ tư, đề xuất thiết lập Cổng một cửa đầu tư quốc gia và cơ chế giám định độc lập chống chuyển giá. Cổng một cửa đầu tư quốc gia do Bộ Tài chính chủ trì, thực hiện triệt để nguyên tắc “khai một lần, dùng nhiều lần” và xử lý hồ sơ điện tử toàn trình. Với cơ chế này, cơ quan nhà nước có quyền yêu cầu giám định độc lập giá trị vốn, máy móc, công nghệ; nhà đầu tư phải chịu toàn bộ chi phí giám định nếu bị phát hiện khai gian làm tăng nghĩa vụ thuế hoặc tuồn “rác công nghệ” vào Việt Nam.
Gia cố bệ phóng thể chế
Dù đề xuất nhiều nội dung tiến bộ, song đối chiếu với yêu cầu của Nghị quyết 10-NQ/TW, dự thảo luật còn một số khoảng trống thể chế và nguy cơ phụ thuộc vào pháp luật chuyên ngành vẫn hiện hữu. Một số quy định hiện hành trong dự thảo mới dừng ở nguyên tắc an ninh chung, hoàn toàn thiếu vắng quy trình rà soát an ninh đầu tư quốc gia chuyên sâu.
Khái niệm “chủ sở hữu hưởng lợi cuối cùng” chưa được làm rõ, khiến cơ quan chức năng thiếu công cụ ngăn chặn những thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A) có mục đích thâu tóm ngầm hạ tầng dữ liệu, qua công ty bình phong tại “thiên đường thuế”.
Một khoảng trống đáng quan ngại khác là thiếu khung thử nghiệm (sandbox) cho dòng vốn đầu tư gián tiếp (FII), tài sản số và việc nới room ngoại phục vụ nâng hạng thị trường chứng khoán. Dự thảo chọn giải pháp an toàn là dẫn chiếu thụ động sang Luật Chứng khoán, trong khi Luật Chứng khoán lại chưa quy định trực tiếp mà “đẩy” các nội dung này xuống tầm nghị định.
Dự thảo cũng thiếu vắng khung khổ khuyến khích chuyên gia, quản lý người Việt đứng ra khởi nghiệp sau thời gian làm việc tại các tập đoàn FDI; thiếu cơ chế “vốn hạt giống”, bảo vệ trước thỏa thuận không cạnh tranh (non-compete clauses) hay chuyển giao sở hữu trí tuệ.
Việc Quốc hội sẽ xem xét thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư ngay tại kỳ họp vào tháng 10-2026 là cơ hội rất tốt để khắc phục những khoảng trống, củng cố cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư FDI nói riêng. Chẳng hạn, thay vì dẫn chiếu thụ động, luật mới cần trực tiếp luật hóa nguyên tắc mở rộng “room” ngoại đối với những ngành nghề phi nhạy cảm, tạo cơ sở pháp lý đủ mạnh cho tiến trình nâng hạng thị trường.
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung 5 luật, trong đó có Bộ luật Lao động, cũng được đưa vào chương trình lập pháp tháng 10-2026, là điều kiện thuận lợi để đưa ngay vào nội dung miễn hoàn toàn Giấy phép lao động cho chuyên gia công nghệ thuộc danh mục công nghệ chiến lược. Ngoài ra, các quy định về nhập cảnh, xuất cảnh cần bổ sung diện “Thị thực nhân tài công nghệ” thời hạn 5-10 năm, tích hợp quyền bảo lãnh gia đình và sở hữu nhà để tạo sức hút vượt trội đối với nhà khoa học và chuyên gia công nghệ đỉnh cao.