Cột mốc mới, chặng đường mới

(ĐTTCO) - Việc Việt Nam được Ngân hàng Thế giới (WB) xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao là một dấu mốc đáng ghi nhận trên hành trình phát triển. Mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD là một khát vọng lớn.

Nhưng đây không phải là đích đến, càng không phải sự bảo đảm rằng nền kinh tế đã bước vào quỹ đạo của một quốc gia phát triển. Ngược lại, chính từ cột mốc này, một chặng đường mới bắt đầu - khó hơn, đòi hỏi cao hơn và không còn nhiều dư địa cho những cách tăng trưởng cũ.

Những thách thức mới

Tuy nhiên, đó không chỉ là câu chuyện nâng một chỉ số thu nhập. Đằng sau con số ấy là yêu cầu chuyển đổi về chất lượng tăng trưởng, cơ cấu nền kinh tế, năng lực công nghiệp, trình độ công nghệ, sức mạnh của doanh nghiệp trong nước và hiệu quả quản trị quốc gia.

Trong nhiều thập niên qua, Việt Nam đã tăng trưởng nhanh nhờ khai thác tốt lợi thế lao động, mở rộng đầu tư, hội nhập sâu vào thương mại toàn cầu và thu hút mạnh dòng vốn nước ngoài. Những động lực này đã tạo nên thành tựu quan trọng, đưa nền kinh tế từ nhóm thu nhập thấp lên nhóm thu nhập trung bình.

Nhưng khi mức sống tăng lên, chi phí lao động cao hơn và cạnh tranh quốc tế gay gắt hơn, những lợi thế từng tạo nên thành công sẽ dần suy giảm. Nếu không hình thành được động lực mới, tốc độ tăng trưởng có thể chậm lại ngay khi nền kinh tế vừa bước qua một ngưỡng phát triển mới.

Đó là bản chất của bẫy thu nhập trung bình. Một quốc gia có thể đi rất nhanh trong giai đoạn đầu nhờ vốn đầu tư, lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên hoặc gia công xuất khẩu. Nhưng để đi tiếp, quốc gia đó phải nâng được năng suất, làm chủ công nghệ, tạo ra doanh nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế và xây dựng được thể chế đủ năng lực thúc đẩy đổi mới.

Không ít nền kinh tế đã bước vào nhóm thu nhập trung bình cao nhưng sau đó mất nhiều thập niên tăng trưởng chậm, bởi những động lực cũ đã cạn trong khi động lực mới chưa kịp hình thành.

Bài học quốc tế cho thấy ranh giới giữa bứt phá và mắc kẹt không nằm ở một con số thu nhập, mà nằm ở năng lực chuyển đổi mô hình phát triển. Hàn Quốc, Singapore hay Đài Loan (Trung Quốc) không vượt lên chỉ nhờ tăng vốn đầu tư. Họ kiên trì nâng chất lượng giáo dục, đầu tư cho khoa học - công nghệ, xây dựng doanh nghiệp nội địa, phát triển công nghiệp có hàm lượng tri thức cao và cải cách thể chế phù hợp với từng giai đoạn.

Ngược lại, nhiều nền kinh tế tăng trưởng nhanh trong một thời gian nhưng sau đó chững lại vì năng suất trì trệ, phụ thuộc lớn vào tài nguyên, vốn ngoại hoặc các ngành gia công có giá trị gia tăng thấp.

Đối với Việt Nam, nguy cơ ấy không xa vời. Năng suất lao động dù cải thiện nhưng còn khoảng cách đáng kể so với nhiều nước trong khu vực. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn đóng vai trò rất lớn trong xuất khẩu, trong khi mức độ liên kết và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.

Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, năng lực quản trị và tích lũy vốn chưa mạnh. Công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, khả năng làm chủ các khâu có giá trị gia tăng cao còn khiêm tốn. Thị trường tài chính chưa thật sự trở thành kênh dẫn vốn dài hạn hiệu quả cho đổi mới sáng tạo và sản xuất.

Nâng cấp năng lực nội sinh

Vì vậy, vượt ngưỡng thu nhập phải đi cùng với nâng cấp năng lực nội sinh của nền kinh tế. Năng lực đó trước hết là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và kỷ luật tài khóa; là một thị trường tài chính minh bạch, an toàn và đủ chiều sâu; là hệ thống giáo dục có khả năng cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao; là năng lực nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ; là bộ máy công quyền có khả năng kiến tạo phát triển, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh và giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.

Trong cấu trúc ấy, khu vực kinh tế tư nhân phải thực sự trở thành một động lực trung tâm. Muốn vậy, doanh nghiệp tư nhân không chỉ cần được khuyến khích bằng khẩu hiệu, mà phải được tiếp cận bình đẳng với đất đai, tín dụng, dữ liệu, cơ hội đầu tư và thị trường.

Chính sách cần tạo điều kiện để hình thành các doanh nghiệp quy mô lớn, có khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng, đồng thời giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng năng lực quản trị, công nghệ và tiêu chuẩn sản xuất. Một nền kinh tế không thể có sức tự chủ nếu khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ đứng ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp.

Cùng với đó, công nghệ cao không thể chỉ được hiểu là thu hút thêm các dự án hiện đại từ nước ngoài. Điều quan trọng hơn là khả năng hấp thụ, làm chủ và phát triển công nghệ của chính doanh nghiệp, viện nghiên cứu và đội ngũ nhân lực trong nước. Thu hút FDI vẫn cần thiết, nhưng phải chuyển từ mục tiêu ưu tiên số lượng vốn sang chất lượng dự án, mức độ liên kết nội địa, chuyển giao công nghệ và đóng góp thực chất vào năng suất của nền kinh tế.

Nhà nước kiến tạo cũng không chỉ là một cách gọi. Đó phải là một nhà nước có năng lực dự báo, thiết kế chính sách nhất quán, tổ chức thực thi hiệu quả và chịu trách nhiệm về kết quả.

Cải cách thể chế cần đi vào những vấn đề cụ thể: bảo đảm quyền tài sản, giảm thủ tục, tăng tính minh bạch, loại bỏ cơ chế xin - cho, khuyến khích cạnh tranh, bảo vệ người dám đổi mới và xử lý nghiêm những hành vi trục lợi chính sách. Trong giai đoạn mới, chất lượng thể chế sẽ quyết định trực tiếp tốc độ chuyển hóa các nguồn lực thành tăng trưởng.

Điều cần tránh nhất sau cột mốc mới là tâm lý tự mãn. Một nền kinh tế có thể đạt mức thu nhập cao hơn trong vài năm nhờ đầu tư, xuất khẩu hoặc những điều kiện thuận lợi bên ngoài. Nhưng chỉ những cải cách tạo ra năng suất cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, công nghệ tốt hơn và thể chế hiệu quả hơn mới giúp duy trì tăng trưởng trong nhiều thập niên.

Cột mốc thu nhập trung bình cao vì thế vừa là thành quả, vừa là lời nhắc nhở. Nếu tận dụng được thời gian từ nay đến năm 2030 để chuyển đổi thực chất mô hình phát triển, Việt Nam có thể tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Nếu cải cách chậm lại, cột mốc hôm nay có thể chỉ là một dấu mốc thống kê đáng tự hào, nhưng chưa đủ để mở ra một bước ngoặt lịch sử.

Chặng đường mới đã bắt đầu. Và thước đo quan trọng nhất không còn là chúng ta đã đi qua ngưỡng nào, mà là nền kinh tế có đủ năng lực để đi tiếp nhanh, bền vững và tự chủ hay không.

Các tin khác