Tuy nhiên, nếu tiếp cận theo phương pháp luận chi tiêu của hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) và giải mã chuỗi số liệu thực tế 6 tháng đầu năm giai đoạn từ 2010-2026, quan điểm này hoàn toàn bị bẻ gãy.
Chuỗi dữ liệu lịch sử khẳng định nền kinh tế không hề rơi vào trạng thái suy kiệt về quy mô hay tốc độ tăng trưởng của cầu.
Tổng cầu không suy yếu
Trong khoa học kinh tế vĩ mô, SNA cung cấp 3 phương pháp luận độc lập để đo lường tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Phương pháp sản xuất (giá trị gia tăng), phương pháp thu nhập và phương pháp chi tiêu (tiếp cận từ phía cầu).
Trong số đó, tiếp cận GDP từ phía cầu đóng vai trò như “chiếc kính đo nhiệt” trực quan nhất về sức khỏe vĩ mô. Phương pháp này bóc tách chính xác khả năng hấp thụ hàng hóa và dịch vụ của toàn bộ nền kinh tế, đồng thời phản ánh mức độ tự tin của người tiêu dùng, giới đầu tư và thị trường quốc tế đối với quốc gia.
Các chỉ chỉ số tiêu dùng cuối cùng (C), tích lũy tài sản (I), xuất khẩu (E) lẫn nhập khẩu (M) trong 6 tháng đều ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ. Nút thắt làm cho doanh nghiệp nội địa thấy khó khăn không phải vì người dân thắt lưng buộc bụng hay thị trường cạn cầu, mà nằm ở các vấn đề thuộc về năng lực và hiệu quả từ phía cung (AS).
Quan sát cấu phần tiêu dùng cuối cùng, dữ liệu chuỗi thời gian 17 năm chỉ ra đây luôn là trụ đỡ lớn nhất của nền kinh tế. Và trong 6 tháng đầu năm, tiêu dùng cuối cùng đạt tốc độ tăng trưởng 8,15%, mức tăng thuộc nhóm cao nhất trong một thập niên qua (chỉ sau mức đỉnh 8,41% của năm 2025 và 10,03% của năm 2015).
Xét về mặt cơ cấu, tiêu dùng cuối cùng chiếm tới 67,32% GDP. Tỷ trọng này không những không bị thu hẹp, mà còn mở rộng rõ rệt so với chu kỳ 3 năm từ 2022-2024 (lần lượt đạt 67,24%, 66,98% và 66,11%).
Động lực chi phối chính là tiêu dùng của hộ dân cư: trong 6 tháng 2026 đạt tốc độ tăng trưởng bứt phá 9,48% (so với 7,41% của 6 tháng 2025), đẩy tỷ trọng chi tiêu của dân cư vọt lên 58,4% GDP. Trong khi đó tiêu dùng nhà nước giảm nhẹ, âm 0,05% về tốc độ tăng trưởng, nhưng vẫn duy trì tỷ trọng 8,92% GDP để giữ kỷ luật ngân sách.
Như vậy việc tiêu dùng hộ dân cư tăng trưởng gần 2 con số (9,48%) và chiếm gần 3/5 quy mô nền kinh tế gián tiếp, phần nào bác bỏ giả định về một “tổng cầu tiêu dùng bị đóng băng”.
Sức hấp thụ của nền kinh tế vẫn rất nóng
Ở cấu phần tích lũy tài sản, số liệu 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận mức tăng trưởng 15,2%, gần như gấp đôi tốc độ tăng 8,23% của 6 tháng 2025 và là tốc độ tăng cao nhất kể từ sau năm 2010. Sự bứt phá về tốc độ này đã kéo tỷ trọng tích lũy tài sản vọt lên 30,81% GDP (so với 28,25% của 6 tháng 2025).
Trong đó, tích lũy tài sản cố định chiếm 27,45% GDP, và tích lũy tài sản lưu động vọt lên 3,35% GDP. Sự tăng tốc mạnh mẽ của tích lũy tài sản phản ánh dòng vốn đầu tư xã hội, bao gồm cả đầu tư công lẫn đầu tư FDI đang được bơm vào nền kinh tế với cường độ rất cao.
Bức tranh hoạt động ngoại thương thông qua cán cân thương mại thể hiện độ mở kinh tế đang ở ngưỡng chưa từng có. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đạt tới 20,18% (so với 13,96% của 6 tháng năm 2025), đẩy tỷ trọng xuất khẩu vọt lên kỷ lục 107,65% GDP.
Chiều ngược lại, nhập khẩu cũng tăng bùng nổ 26,44% (so với 15,5% của 6 tháng năm 2025), đưa tỷ trọng nhập khẩu lên ngưỡng kỷ lục 110,91% GDP. Việc GDP tăng trưởng 8,18% trong 6 tháng năm, cùng sự gia tăng đồng loạt 2 con số ở cả tiêu dùng cuối cùng, tích lũy tài sản, xuất khẩu lẫn nhập khẩu, chứng minh sức hấp thụ và đà giao thương của nền kinh tế đang ở trạng thái rất nóng.
Thực tế số liệu giai đoạn 2010-2026 chứng minh, tiêu dùng tăng mạnh, tích lũy vọt đỉnh, xuất nhập khẩu bùng nổ. Như vậy lý do khiến các doanh nghiệp sản xuất trong nước vẫn gặp khó khăn không nằm ở chỗ “người dân cạn tiền”, mà nằm ở hiện tượng rò rỉ cầu ra nước ngoài và suy nhược từ phía cung.
Khi nhập khẩu tăng vọt 26,44% và chiếm tới 110,91% GDP (với riêng nhập khẩu hàng hóa chiếm 102,21% GDP), điều đó cho thấy dòng tiền tiêu dùng và tích lũy khổng lồ trong nước đang bị hút trực tiếp ra bên ngoài. Có nghĩa người dân và doanh nghiệp không thiếu tiền chi tiêu, nhưng họ lựa chọn hàng ngoại nhập vì có giá thành rẻ hơn, chất lượng tối ưu hơn.
Từ đó cho thấy doanh nghiệp nội địa không bán được hàng vì giá thành sản xuất trong nước quá đắt đỏ, chi phí vận hành cao và năng lực cạnh tranh kém, hoàn toàn không phải do thị trường thiếu cầu.
Do đó, tư duy điều hành vĩ mô cho giai đoạn tới phải chăng nên chuyển hướng sang kinh tế học trọng cung (Supply-side Economics). Chính phủ cần dồn lực tháo gỡ khó khăn cho phía cung bằng cách cắt giảm triệt để chi phí tuân thủ, loại bỏ giấy phép con, hạ chi phí logistics và cải cách thể chế. Cần tập trung chính sách ưu đãi thuế, tín dụng để hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, ứng dụng công nghệ và tăng giá trị gia tăng.
Mọi gói hỗ trợ tiêu dùng nếu có phải được thiết kế tinh vi, để buộc dòng tiền kích cầu gắn chặt với việc sử dụng sản phẩm do nền sản xuất trong nước tạo ra. Đây chính là chìa khóa duy nhất để kinh tế Việt Nam phát triển bền vững
Khi phía cung nội địa yếu kém, mọi nỗ lực bơm tiền kích cầu đại trà cần được xem lại: tiền bơm ra sẽ lập tức bị chảy sạch qua kênh nhập khẩu, vừa không hỗ trợ được sản xuất trong nước, vừa gây thâm hụt cán cân và tạo áp lực lạm phát.