Trao đổi với phóng viên Báo SGGP, TS Nguyễn Thị Thiện Trí (ảnh), Trường Đại học Luật TPHCM, nêu rõ điểm vượt trội của dự thảo là phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, mở không gian để đô thị đặc biệt chủ động tháo gỡ những vấn đề thực tiễn mà pháp luật hiện hành chưa theo kịp.
Phóng viên: Theo TS triết lý lập pháp xuyên suốt của nhóm quy định trong dự thảo Luật Phát triển đô thị từ Điều 3 đến Điều 8 là gì? Vì sao nên thay đổi cách quản trị đô thị theo hướng trao quyền mạnh hơn cho chính quyền đô thị đặc biệt?
TS NGUYỄN THỊ THIỆN TRÍ: Đây là nhóm quy định mang tính nguyên tắc chung, định hướng cho toàn bộ cơ chế, chính sách cụ thể của dự luật. Với Luật Phát triển đô thị, những điều khoản này phải thể hiện tinh thần vượt trội so với quy định chung về tổ chức chính quyền địa phương, trao quyền để đô thị chủ động kiến tạo phát triển.
Điểm mới trong triết lý lập pháp là lấy “quan hệ quản trị đô thị đặc biệt” làm cơ sở thiết kế cơ chế phân quyền. Đô thị đặc biệt có quy mô dân số, tốc độ phát triển và yêu cầu quản trị khác với địa phương thông thường. Nếu vẫn áp dụng một khuôn khổ đồng nhất, chính quyền đô thị khó phản ứng kịp trước những vấn đề phát sinh nhanh và mang tính đặc thù.
Dự thảo thể hiện bước chuyển từ mô hình chính quyền đô thị chủ yếu thực thi, thừa hành sang chủ động quyết định, tạo lập chính sách trong phạm vi được giao. Quan hệ giữa Trung ương và địa phương, theo đó, nên được phân công rõ hơn: “Địa phương cầm chèo, Trung ương cầm lái”.
Dự thảo cho phép thành phố ban hành quy định khác với văn bản của Trung ương trong một số trường hợp và thí điểm cơ chế pháp luật chưa có tiền lệ. Đây có phải là bước đột phá lớn về thể chế, thưa TS?
- Muốn đánh giá mức độ đột phá, trước hết phải nhận diện đúng các điểm nghẽn pháp lý. Điểm nghẽn thứ nhất là luật đã có quy định nhưng nghị định, thông tư hướng dẫn chưa được ban hành kịp thời, chưa đầy đủ hoặc chưa phù hợp yêu cầu quản trị đô thị. Địa phương nhìn thấy rõ vấn đề nhưng không đủ thẩm quyền để xử lý.
Điểm nghẽn thứ hai là thực tiễn đô thị đã phát sinh vấn đề mới nhưng luật, nghị quyết của Quốc hội chưa điều chỉnh, hoặc quy định hiện hành không còn phù hợp. Nếu phải chờ hoàn tất toàn bộ quy trình lập pháp ở Trung ương, cơ hội phát triển có thể bị bỏ lỡ, trong khi nhiều vấn đề về giao thông, môi trường, đầu tư, nhà ở, y tế, giáo dục tiếp tục tích tụ.
Dự thảo Luật Phát triển đô thị đưa ra 2 nhóm giải pháp tương ứng: cho phép thành phố ban hành quy định khác với một số văn bản của Trung ương trong phạm vi, điều kiện luật định, đồng thời thí điểm chính sách mới đối với vấn đề chưa được luật, nghị quyết của Quốc hội quy định. So với cách quản lý đồng nhất và mô hình thí điểm một số cơ chế đặc thù trước đây, đây là bước tiến đáng kể.
Công trường dự án Trung tâm Hành chính mới và Quảng trường Trung tâm tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm (phường An Khánh, TPHCM). ẢNH: HOÀNG HÙNG
Trao quyền càng lớn, nguy cơ lạm quyền càng cao. Dự thảo đã thiết kế những “hàng rào” nào để vừa khuyến khích đổi mới, vừa kiểm soát quyền lực và bảo đảm trách nhiệm giải trình?
- Trao quyền phải luôn đi cùng kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, bản thân việc phân quyền rõ ràng, minh bạch đã là một phương thức kiểm soát hiệu quả.
Nguyên tắc phải là “quyền ở đâu, trách nhiệm ở đó”. Khi luật xác định cụ thể cơ quan nào có quyền quyết định, phạm vi đến đâu và chịu trách nhiệm như thế nào, việc kiểm tra, giám sát, xử lý trách nhiệm sẽ thuận lợi hơn.
Chính quyền đô thị còn chịu sự kiểm soát qua nhiều cơ chế hiện hành như giám sát của HĐND cùng cấp, kiểm tra của cơ quan cấp trên, chế độ báo cáo, giải trình, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xét xử hành chính, kiểm tra của Đảng và giám sát của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, người dân, báo chí…
Điểm đáng chú ý của dự thảo không nhất thiết là tạo ra một cơ chế kiểm soát hoàn toàn mới, mà là thiết lập sự kiểm soát ngay trong cách phân định thẩm quyền.
Điều 8 cho phép xã hội hóa một số hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính. Người dân, doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi như thế nào và đâu là nguyên tắc phải giữ để không “tư nhân hóa” dịch vụ công?
- Xã hội hóa một số hoạt động hỗ trợ cung ứng dịch vụ công là xu hướng phù hợp với yêu cầu tinh gọn bộ máy và nâng cao chất lượng phục vụ.
Để tránh tình trạng cung ứng dịch vụ thiếu công bằng hoặc bị thương mại hóa, nên lựa chọn phù hợp những nội dung được xã hội hóa, đồng thời giữ lại cho cơ quan nhà nước các khâu quy trình mang tính quyết định trong giải quyết thủ tục. Bên cạnh đó, thiết kế cơ chế kiểm soát chặt chẽ nhằm phòng ngừa sai phạm.
Việc lựa chọn doanh nghiệp, tổ chức tham gia cũng nên công khai, minh bạch, lấy năng lực chuyên môn, chất lượng phục vụ và khả năng bảo vệ dữ liệu làm tiêu chí. Nên kiểm soát chặt xung đột lợi ích, ngăn tình trạng “người nhà”, “sân sau”, lợi dụng thủ tục hành chính để kinh doanh hoặc tạo thêm chi phí cho người dân.