Bản thân thủy điện không có lỗi

Trao đổi với ĐTTC về việc phát triển các công trình thủy điện, GS.TSKH Phạm Hồng Giang, nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, Chủ tịch Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước, cho biết: “Bản thân thủy điện không có lỗi. Lỗi là ở khâu quản lý, giám sát không tốt, dẫn đến tình trạng phát triển tràn lan, chất lượng các thủy điện không đảm bảo, hiệu quả kinh tế không cao và kéo theo nhiều hệ lụy về môi trường”.

Trao đổi với ĐTTC về việc phát triển các công trình thủy điện, GS.TSKH Phạm Hồng Giang, nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, Chủ tịch Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước, cho biết: “Bản thân thủy điện không có lỗi. Lỗi là ở khâu quản lý, giám sát không tốt, dẫn đến tình trạng phát triển tràn lan, chất lượng các thủy điện không đảm bảo, hiệu quả kinh tế không cao và kéo theo nhiều hệ lụy về môi trường”.

PHÓNG VIÊN: - Thưa GS., với hơn 1.000 dự án thủy điện lớn nhỏ được bố trí chồng chéo, bất hợp lý, dường như khâu quy hoạch thủy điện nước ta đang “có vấn đề”?

- GS. PHẠM HỒNG GIANG: - Thủy điện phát triển mạnh ở nước ta trong vài thập niên trở lại đây và không thể phủ nhận tầm quan trọng của những dự án này. Tuy nhiên, trong phát triển thủy điện, vì nóng vội, chúng ta đã phạm phải khá nhiều sai lầm.

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, cả nước có 1.114 công trình và dự án thủy điện, trong đó 217 dự án đang thi công, 309 dự án đang được nghiên cứu lập hồ sơ đầu tư. Một dự án thủy điện ra đời sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cảnh quan, đời sống người dân, đáng lẽ chúng ta nên tiến hành cẩn trọng hơn, những quy định chính sách đầy đủ và chặt chẽ hơn.

Nhưng từ khâu quy hoạch, quản lý xây dựng đến quản lý vận hành đều làm không tốt, thiếu những quy định cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững của thủy điện.

Bên cạnh đó, việc duyệt quy hoạch thủy điện, đặc biệt ở các địa phương rất nhanh, quy hoạch riêng rẽ, áp đặt, không xét đến việc khai thác tổng hợp nguồn nước nhằm sử dụng đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất trong lưu vực, không nghiên cứu kỹ, coi nhẹ tác động của việc thay đổi dòng chảy đến môi trường và dân sinh ở hạ du.

Cộng với việc quản lý thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm từ quản lý kỹ thuật đến quản lý vận hành, hậu quả chúng ta đang gánh chịu là đương nhiên.

- Có nghịch lý là dù nhà máy thủy điện nhiều nhưng mùa khô nào chúng ta cũng phải đối phó với tình trạng thiếu điện. Thêm vào đó, những hệ lụy về môi trường và đời sống người dân rất lớn. Dường như chúng ta đang mất nhiều hơn được, thưa GS.?

- Chúng ta phải công bằng khi nhìn nhận về thủy điện. Bản thân thủy điện không có lỗi. Trong khi sản lượng điện từ than, dầu mỏ… đang dần cạn kiệt, thủy điện là nguồn năng lượng linh hoạt, tái tạo, vĩnh viễn. Trên thế giới có nhiều quốc gia phát triển đã khai thác hết nguồn thủy năng và có sản lượng lớn, chẳng hạn như Na Uy (gần 99% sản lượng điện toàn quốc là thủy điện), Thụy Sĩ, Italia, Áo…

Ở nước ta, với lợi thế về địa lý, việc phát triển thủy điện là phù hợp và các nhà máy thủy điện đã đóng góp đáng kể trong công cuộc phát triển đất nước, giữ vững an ninh năng lượng. Quy hoạch thủy điện đến năm 2020, tầm nhìn 2030 cũng cho thấy thủy điện sẽ tiếp tục đóng vai trò cực kỳ quan trọng.

Vấn đề cốt yếu ở đây là công tác quy hoạch, quản lý của chúng ta quá yếu, dẫn đến các dự án thủy điện phát triển tràn lan, thiếu hợp lý, không kiểm soát được. Có địa phương lên tới hàng trăm dự án thủy điện lớn nhỏ.

Đặc biệt khu vực miền Trung - Tây nguyên, các con sông đều chi chít các dự án thủy điện mà khi duyệt quy hoạch, những người có trách nhiệm đã không tính đến hiệu quả kinh tế, tác động môi trường, tác động đến đời sống người dân. Điều này là lỗi của chúng ta. Ở nhiều nước trên thế giới, các công trình thủy điện trở thành thắng cảnh, còn nước ta chỉ vài công trình làm được điều này.

- Trong thời gian dài, việc quá dễ dãi khi phân cấp cho địa phương được cấp phép các dự án thủy điện nhỏ (dưới 50MW) đã dẫn đến tình trạng “bội thực” dự án thủy điện hiện nay?

- Điều này thực sự là một thiếu sót. Phân cấp là hợp lý nhưng cũng như nhiều lĩnh vực khác, phân cấp mà không quản lý được sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy. Để xây dựng một công trình thủy điện, đòi hỏi phải có chuyên môn cao, trong khi địa phương có rất ít người am hiểu về chuyên ngành này, thậm chí số lượng kỹ sư thủy lợi cũng rất ít. Vậy ai sẽ duyệt, ai tham mưu cho các lãnh đạo chính quyền địa phương?

Và cứ thế sẽ dẫn đến tình trạng những người có thẩm quyền ký đại cho xong, không cần biết tác động, không cần biết ảnh hưởng. Quy trình ký duyệt và kiểm soát rất lỏng lẻo. Chưa kể nhiều cấp chính quyền hào hứng với thủy điện còn vì động cơ từ lợi ích cục bộ.

Bên cạnh đó, chúng ta còn có thiếu sót lớn nữa là giao phó sự an toàn của đập thủy điện cho các chủ đầu tư. Trong khi chủ đầu tư khó có thể làm tốt được việc này, bởi mục tiêu chủ yếu của họ là lợi nhuận. Điều này các cơ quan quản lý đều biết.

Kết quả thanh tra mới nhất của Bộ Tài nguyên - Môi trường tại các hồ đập thủy điện nhỏ và vừa, ngoài Tập đoàn Điện lực Việt Nam, 100% chủ dự án thủy điện chưa thực hiện đăng ký hoạt động công trình khí tượng thủy văn chuyên dụng, chưa có quy hoạch, kế hoạch khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên nước. Điều này đã được minh chứng qua hàng loạt sự cố thủy điện vừa rồi.

- Theo GS., chúng ta nên đối xử như thế nào với các dự án thủy điện hiện nay?

- Việc rà soát lại các dự án thủy điện đang xây dựng là cần thiết, đã có kiến nghị từ rất lâu, hiện nay cần quyết liệt hơn. Lợi ích kinh tế phải đi đôi với sự cân bằng về cảnh quan, môi trường và đời sống người dân. Dự án nào ảnh hưởng đến môi sinh môi trường, tiêu tốn diện tích rừng lớn cần ngừng ngay. Dự án nào chậm tiến độ, cũng phải xem xét ngừng.

Ngoài ra, không thể giao phó cho chính quyền địa phương và chủ đầu tư như hiện nay được. Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên - Môi trường... cần nhanh chóng kiểm tra, rà soát chất lượng các công trình thủy điện nhỏ và vừa, từ khâu thiết kế, giám sát đến thi công xây lắp, quy định trách nhiệm cụ thể của chủ đầu tư với công trình của mình.

- Xin cảm ơn ông.

Các tin khác