Củng cố nền tảng nội sinh để gia tăng sức chống chịu nền kinh tế

2 tháng đầu năm 2026, nền kinh tế Việt Nam có nhiều khởi sắc. Song, vấn đề đặt ra là: Tăng trưởng hiện nay đến từ khu vực doanh nghiệp trong nước, hay phần lớn vẫn dựa vào khu vực FDI. Nếu động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ khu vực FDI, thì đây là tín hiệu đáng lo ngại về tính bền vững của nền kinh tế.

Củng cố nền tảng nội sinh để gia tăng sức chống chịu nền kinh tế

Xuất khẩu Việt Nam phụ thuộc lớn vào FDI

Theo ông Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê, nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính, hiện áp lực chi phí đang có dấu hiệu quay trở lại (giá năng lượng). Nếu giá xăng, dầu tiếp tục tăng, doanh nghiệp sẽ phải chịu áp lực này, không những thế chi phí cũng sẽ lan rộng sang vận tải, logistics và hàng tiêu dùng, từ đó sẽ đẩy mặt bằng giá hàng hóa lên cao.

“Một khi áp lực chi phí đầu vào và giá năng lượng tích tụ đủ lớn, sẽ biến rủi ro lạm phát thành thách thức trong những tháng tới. Việc có hàng nghìn doanh nghiệp rời bỏ thị trường trong hai tháng vừa qua, khiến chúng ta phải đặt ra câu hỏi về tính bền vững của làn sóng doanh nghiệp gia nhập thị trường hiện nay, điều này cho thấy khu vực doanh nghiệp vẫn đang đối mặt với nhiều áp lực về chi phí, thị trường và dòng vốn”, ông Lâm nói.

Trong 2 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 76,36 tỷ USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 15,96 tỷ USD, giảm 12,0%, chiếm 20,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 60,4 tỷ USD, tăng 30,1%, chiếm 79,1%. Điều này cho thấy cơ cấu xuất khẩu tiếp tục có sự phụ thuộc lớn vào khu vực FDI.

Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 6,03 tỷ USD – trong đó vốn đăng ký cấp mới đạt 3,54 tỷ USD, tăng 61,5% so với cùng kỳ về vốn; vốn FDI thực hiện đạt 3,21 tỷ USD, tăng 8,8% - mức cao nhất của 2 tháng đầu năm trong 5 năm qua. Đây là tín hiệu rất tích cực, cho thấy dòng vốn FDI không chỉ dừng ở cam kết, mà đang được giải ngân một cách thực chất nhất.

Hoạt động đầu tư 2 tháng đầu năm 2026. Ảnh minh họa (ảnh kt)

Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhận định, mặc dù dòng vốn FDI vào Việt Nam tăng mạnh, nhưng đóng góp của khu vực FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội vẫn khiêm tốn, chất lượng vốn FDI và tính lan tỏa còn thấp.

“Việt Nam bị phụ thuộc rất lớn vào khu vực FDI trong xuất khẩu và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, điều này đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực tự chủ xuất khẩu, năng lực kết nối của khu vực kinh tế trong nước, hướng tới xuất khẩu bền vững và tự chủ hơn trong dài hạn”, ông Hiển nhấn mạnh.

Những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu khu vực FDI liên tục tăng mạnh, chiếm tới trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn nền kinh tế, trong khi đó giá trị xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước lại suy giảm, chủ yếu chỉ tham gia ở các khâu giá trị gia tăng thấp (gia công, lắp ráp).

Cần khẩn trương có chính sách nâng cấp năng lực doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy liên kết sản xuất để gia tăng giá trị và tạo ra năng lực nội sinh cho nền kinh tế - đây là yếu tố quyết định đến tính bền vững của tăng trưởng.

Tăng sức chống chịu cho nền kinh tế

Theo TS Trần Đình Thiên, chuyên gia Kinh tế, thực tiễn thời gian qua đã chứng minh sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam là điểm sáng đáng ghi nhận. Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ nằm ở các chỉ số vĩ mô tổng thể, mà ở cấu trúc và chất lượng của những con số đó.

Câu hỏi cốt lõi đặt ra là: Tăng trưởng hiện nay đến từ đâu? Có phải chủ yếu từ khu vực doanh nghiệp trong nước, hay phần lớn vẫn dựa vào khu vực FDI. Nếu động lực tăng trưởng chủ yếu thuộc về khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thì đây là tín hiệu đáng lo ngại về tính bền vững của nền kinh tế.

Trong giai đoạn hiện nay, đâu là những yếu tố giúp tăng sức chống chịu cho nền kinh tế, TS Trần Đình Thiên cho rằng, năng lực chống chịu của nền kinh tế không thể tiếp tục dựa vào FDI và xuất khẩu, mà cần được xây dựng trên nền tảng nội sinh.

“Chúng ta đã xác định được điểm nghẽn về thể chế là rào cản quá trình phát triển, cần nhanh chóng cải cách thể chế, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để phát huy sức mạnh các thành phần kinh tế. Đặc biệt, phải có chính sách nuôi dưỡng năng lực nội sinh của nền kinh tế, đây là yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững, tự chủ và nâng cao sức cạnh tranh, dựa trên việc phát triển bền vững cộng đồng doanh nghiệp trong nước; thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tập trung tháo gỡ các dự án còn vướng mắc pháp lý, gây lãng phí nguồn lực, nếu việc này được giải quyết dứt điểm, đây sẽ là cú hích lớn, giúp nền kinh tế hấp thụ nguồn lực lên đến hàng triệu tỷ đồng”, ông Thiên nhấn mạnh.

Cùng quan điểm, PGS.TS Hoàng Văn Hải, Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng cho rằng, các yếu tố của thể chế có mối liên hệ trực tiếp đến khả năng chống chịu của nền kinh tế, bởi năng lực chống chịu của nền kinh tế gắn chặt với chất lượng điều hành và quản trị của Chính phủ, Nhà nước.

“Tuy nhiên, năng lực điều phối chính sách lại là một trong những hạn chế, đặc biệt trong việc phối hợp liên ngành giữa trung ương với địa phương. Những hạn chế này làm gia tăng độ trễ của chính sách và chi phí phục hồi sau khủng hoảng. Vì vậy, cần nâng cao hiệu quả hoạt động, điều hành của chính phủ, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược gia tăng sức chống chịu cho nền kinh tế, thay vì chỉ dừng ở cải cách thủ tục hành chính theo nghĩa hẹp. Ngoài ra, cần cải thiện môi trường điều tiết để tạo thuận lợi cho kinh doanh - đây là điều kiện cốt lõi giúp doanh nghiệp có thể xoay trục, nắm bắt cơ hội và thích ứng nhanh trong bối cảnh hiện nay”, ông Hải nêu quan điểm.

Các tin khác