TPHCM hội tụ khá đầy đủ những thành phần của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, từ trường, viện, khu công nghệ cao đến doanh nghiệp, cộng đồng khởi nghiệp, ngân hàng, quỹ đầu tư và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Song những thành phần này vẫn khá rời rạc; nhiều kết quả nghiên cứu khó đến doanh nghiệp, dự án khởi nghiệp thiếu vốn và môi trường thử nghiệm, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) còn hạn chế.
Dự thảo hướng tới khắc phục điểm nghẽn này bằng các chính sách hỗ trợ nghiên cứu, ươm tạo, thử nghiệm, huy động vốn, thương mại hóa và phát triển thị trường, qua đó thúc đẩy TPHCM chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất.
Ứng dụng công nghệ và dữ liệu số trong giám sát, điều hành đô thị tại Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh Bình Dương, phường Bình Dương. Ảnh: HOÀNG HÙNG
Tạo chuỗi từ nghiên cứu đến thương mại hóa
Trong dự thảo, một điều luật đặt nền tảng trực tiếp cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo khi trao cho TPHCM quyền chủ động xây dựng cơ chế hỗ trợ nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ, tạo lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, khởi nghiệp, ươm tạo, thương mại hóa sản phẩm và kết quả nghiên cứu.
Một điểm mới đáng chú ý là dự thảo cho phép HĐND TPHCM quy định việc các cơ sở giáo dục đại học công lập, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, tổ chức khoa học và công nghệ công lập khác thuộc phạm vi quản lý của thành phố tham gia thành lập, quản lý, điều hành hoặc góp vốn vào doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Cơ chế này có thể rút ngắn khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và sản xuất, kinh doanh, tạo thêm động lực đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Ở giai đoạn ươm tạo, dự án khởi nghiệp sáng tạo có thể được hỗ trợ chi phí thuê chuyên gia, sử dụng cơ sở kỹ thuật, cơ sở ươm tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo, khu làm việc chung; đồng thời tiếp cận các quỹ, nguồn tài trợ và hợp tác công - tư. Tiếp đó, một điều luật khác mở đường cho công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới được thử nghiệm có kiểm soát.
TPHCM quy định tiêu chí, điều kiện lựa chọn, cơ chế hướng dẫn, bảo vệ người tham gia; hỗ trợ thử nghiệm; cho phép sử dụng cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước, cơ sở hạ tầng và tài sản công. Những dự án đạt hiệu quả còn có thể được ưu tiên mua sắm, đầu tư từ ngân sách và hỗ trợ phát triển thị trường.
Một điều luật khác đề cập đến việc mở rộng không gian cho hoạt động công nghệ cao; kết hợp với cơ chế đầu tư, mua sắm, khai thác tài sản, trang thiết bị, cơ sở vật chất dùng chung được nhắc đến trong dự thảo, có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư ban đầu.
Chuỗi đổi mới sáng tạo còn được bổ sung bởi các cơ chế thu hút nhà đầu tư chiến lược, trung tâm nghiên cứu và phát triển, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp công nghệ và các ưu đãi về mặt bằng, thuế, đấu thầu trong một số điều dự thảo.
Ở khâu huy động vốn, một điều luật cho phép xây dựng cơ chế kết nối, tài trợ, hỗ trợ chuỗi giá trị giữa Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam với khu đô thị khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, khu thương mại tự do, khu logistics và các khu chức năng khác, qua đó có thể góp phần đa dạng hóa nguồn vốn. Một điều luật khác cho phép thành phố giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nhìn tổng thể, các cơ chế trên bước đầu hình thành một chuỗi tương đối đầy đủ từ nghiên cứu, ươm tạo, thử nghiệm đến huy động vốn, thương mại hóa và mở rộng thị trường. Giá trị lớn nhất là khả năng kết nối trường, viện, doanh nghiệp, khu vực FDI, quỹ đầu tư và thị trường.
Khi tri thức gặp đúng nhu cầu, dự án tiếp cận được vốn, công nghệ có môi trường thử nghiệm và sản phẩm tìm được khách hàng, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mới thực sự vận hành.
Lựa chọn một số bài toán lớn để dẫn dắt hệ sinh thái
Cơ chế mới tạo ra khung. Để biến khung pháp lý thành năng lực đổi mới sáng tạo thực tế, TPHCM có thể lựa chọn một số bài toán lớn để dẫn dắt hệ sinh thái, như giao thông thông minh, chống ngập, logistics, y tế, năng lượng sạch, công nghệ tài chính, sản xuất thông minh và quản trị đô thị dựa trên dữ liệu.
Mỗi bài toán sẽ xác định rõ nhu cầu, yêu cầu kỹ thuật, nguồn dữ liệu, ngân sách thử nghiệm và khả năng mở rộng. Thành phố nên có một đầu mối đủ năng lực điều phối, theo dõi dự án xuyên suốt từ nghiên cứu, ươm tạo, thử nghiệm đến thương mại hóa.
Cùng với đó là xây dựng nền tảng dữ liệu chung về nhu cầu công nghệ, kết quả nghiên cứu, chuyên gia, phòng thí nghiệm, thiết bị dùng chung, quỹ đầu tư và chương trình hỗ trợ.
Nguồn vốn nên được thiết kế theo từng giai đoạn. Ngân sách nhà nước tập trung hỗ trợ nghiên cứu, ươm tạo, thử nghiệm ở giai đoạn rủi ro cao; quỹ đầu tư mạo hiểm tham gia khi dự án đã chứng minh được công nghệ và nhu cầu thị trường; vốn tư nhân, tín dụng ngân hàng được huy động mạnh hơn khi doanh nghiệp mở rộng.
Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, chia sẻ rủi ro ban đầu nhưng không đầu tư thay cho thị trường. Việc lựa chọn dự án phải cạnh tranh, công khai, có chuyên gia độc lập thẩm định và tiêu chí đánh giá rõ.
Đổi mới sáng tạo luôn có xác suất thất bại, vì vậy nên phân biệt thất bại do rủi ro công nghệ, thị trường với thất bại do lựa chọn sai, sử dụng vốn không đúng mục đích hoặc quản lý yếu kém. Chấp nhận rủi ro không đồng nghĩa với giảm yêu cầu về minh bạch và trách nhiệm.
Đối với thử nghiệm có kiểm soát, dự thảo đã mở khá rộng thẩm quyền cho thành phố. Trong quá trình áp dụng, nên đặc biệt làm rõ trách nhiệm xử lý thiệt hại và cơ chế bảo vệ trong các lĩnh vực nhạy cảm như dữ liệu cá nhân, tài chính, y tế và an toàn đô thị. Việc sử dụng dữ liệu, hạ tầng và tài sản công để thử nghiệm phải đi kèm yêu cầu bảo mật, đánh giá tác động và bảo vệ người tham gia.
Cơ chế ưu tiên mua sắm, đầu tư từ ngân sách đối với dự án thử nghiệm đạt hiệu quả đề xuất trong dự thảo luật cũng nên được sử dụng thực chất để tạo thị trường ban đầu cho sản phẩm mới. Điều kiện đấu thầu nên phù hợp để doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ có cơ hội tham gia.
Đối với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI và nhà đầu tư chiến lược, chính sách thu hút cần khuyến khích hình thành trung tâm nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, hợp tác với trường, viện, phát triển nhà cung cấp trong nước và chuyển giao công nghệ phù hợp pháp luật, nhằm tạo hiệu ứng lan tỏa cho doanh nghiệp nội địa.
Hiệu quả chính sách cần được đo bằng kết quả đầu ra: số công nghệ được chuyển giao, sản phẩm được thương mại hóa, hợp đồng giữa trường, viện và doanh nghiệp, vốn tư nhân được huy động, doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng và mức tăng năng suất. Những quỹ, trung tâm hoặc chương trình hoạt động kém hiệu quả phải được điều chỉnh, sáp nhập hoặc chấm dứt.
TPHCM đã có nền tảng về thị trường, doanh nghiệp, tri thức, tài chính và nhân lực. Dự thảo Luật Phát triển đô thị tạo thêm cơ chế để những nguồn lực này liên kết thành một hệ sinh thái thống nhất hơn.
Khi trường, viện nghiên cứu sát nhu cầu thị trường; doanh nghiệp tiếp cận được công nghệ và vốn; dự án khởi nghiệp có môi trường thử nghiệm; doanh nghiệp FDI liên kết sâu hơn với doanh nghiệp trong nước và sản phẩm mới tìm được khách hàng, sức mạnh cộng hưởng mới thực sự hình thành.
Đây cũng là nền tảng để TPHCM chuyển nhanh hơn từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, đất đai và lao động sang tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất.
Đổi mới sáng tạo luôn đi kèm rủi ro như có thể hình thành nhiều quỹ, trung tâm, khu đổi mới sáng tạo nhưng thiếu dự án chất lượng; nguồn lực có thể tập trung vào doanh nghiệp lớn, trong khi doanh nghiệp nhỏ khó tiếp cận vốn, dữ liệu và cơ sở thử nghiệm.
Đầu tư mạo hiểm, hỗ trợ không hoàn lại cũng có nguy cơ thất thoát nếu thiếu tiêu chí và giám sát. Do đó, chấp nhận rủi ro phải đi cùng minh bạch, đánh giá độc lập và trách nhiệm rõ ràng; những chương trình kém hiệu quả cần được điều chỉnh hoặc dừng.