Khai thông hạ tầng số cho mô hình tăng trưởng

(ĐTTCO) - Chuyển đổi mô hình tăng trưởng không còn là chủ đề mang tính lý luận, mà trở thành yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn phát triển.

Tập trung vào việc xây dựng chiến lược quốc gia về dữ liệu, đầu tư mạnh vào hạ tầng số, và cải cách thể chế để thúc đẩy đổi mới công nghệ.
Tập trung vào việc xây dựng chiến lược quốc gia về dữ liệu, đầu tư mạnh vào hạ tầng số, và cải cách thể chế để thúc đẩy đổi mới công nghệ.

Nhiều học giả và chuyên gia kinh tế đã liên tục đưa ra các kiến nghị nhằm trả lời cho câu hỏi: chọn mô hình nào, chuyển đổi ra sao, cần làm gì và làm thế nào để mô hình mới thực sự đi vào cuộc sống.

Nền tảng cho mô hình tăng trưởng mới

Một điểm chung trong các phân tích của các chuyên gia, mô hình tăng trưởng mới phải dựa trên nội lực, năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nhưng để hiện thực hóa điều đó, Việt Nam cần xác định rõ những trụ cột ưu tiên và có chiến lược hành động cụ thể. Trong số các trụ cột được đề xuất, kinh tế số nổi lên như một nền tảng thiết yếu. Không chỉ là xu thế toàn cầu, kinh tế số còn là công cụ để nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tạo ra động lực tăng trưởng nội sinh.

Kinh tế số cũng đang trở thành một trong những yếu tố cốt lõi để Việt Nam xây dựng mô hình tăng trưởng mới. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số hiện nay vẫn gặp nhiều thách thức về hạ tầng, thể chế và năng lực triển khai. Một trong những điểm nghẽn lớn là thiếu hạ tầng số đồng bộ.

Mạng lưới dữ liệu quốc gia chưa được kết nối hiệu quả, hệ thống định danh số còn phân tán, và việc chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan vẫn bị cản trở bởi rào cản pháp lý. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn chiếm phần lớn nền kinh tế lại chưa có đủ năng lực để chuyển đổi số, cả về tài chính lẫn nhân lực.

Trong nghiên cứu gần đây, TS. Nguyễn Bá Hùng (chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam) chỉ ra rằng, để kinh tế số thực sự trở thành động lực tăng trưởng, Việt Nam cần phát triển hạ tầng dữ liệu quốc gia, thúc đẩy kết nối số giữa các ngành và địa phương, và xây dựng năng lực quản trị số trong khu vực công. Ông Hùng nhấn mạnh: “Chuyển đổi số không thể chỉ là số hóa quy trình, mà phải là tái cấu trúc toàn diện cách vận hành nền kinh tế”.

Trong bản khuyến nghị chính sách vừa được gửi tới Chính phủ, Đại học Kinh tế quốc dân (NEU) cũng đưa ra những kiến nghị cho một mô hình tăng trưởng mới. Trong đó cũng có kiến nghị tập trung vào việc xây dựng chiến lược quốc gia về dữ liệu, đầu tư mạnh vào hạ tầng số, và cải cách thể chế để thúc đẩy đổi mới công nghệ.

Thiết lập các trung tâm hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, và phát triển lực lượng lao động có kỹ năng số.

Động lực nội sinh cho khoa học công nghệ

Song song với chuyển đổi số, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cần được coi là động lực nội sinh của tăng trưởng. Đây là yếu tố quyết định để Việt Nam thoát khỏi mô hình gia công, tiến tới nền kinh tế sáng tạo và có năng suất cao. Nhưng thực tế cho thấy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam vẫn còn sơ khai.

TS. Quyết Thắng (Đại học Bách khoa Hà Nội) nhận xét: “Chúng ta nói nhiều đến công nghệ, nhưng năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn rất yếu. Nhân lực công nghệ cao thiếu hụt, liên kết giữa viện - trường - doanh nghiệp chưa hình thành rõ nét”.

Một hướng tiếp cận đang được nhiều chuyên gia quan tâm, là xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo liên kết giữa trường đại học - doanh nghiệp - Nhà nước, với cơ chế vận hành linh hoạt và minh bạch. Bởi muốn có đổi mới phải có nền tảng nghiên cứu mạnh, có cơ chế tài trợ R&D (nghiên cứu và phát triển) dài hạn, và có môi trường để thử nghiệm các ý tưởng mới.

Nhưng hiện đầu tư cho R&D của cả Nhà nước và khu vực tư nhân vẫn ở mức thấp. Nhiều doanh nghiệp chưa coi R&D là một phần chiến lược, trong khi các viện nghiên cứu và trường đại học chưa có cơ chế gắn kết với thị trường. Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tài trợ nghiên cứu, và hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo vẫn còn nhiều bất cập.

Từ thực tế đó, GS.TS Ngô Thắng Lợi (NEU) nhấn mạnh, việc thiết lập các quỹ đổi mới sáng tạo quốc gia, có cơ chế vận hành linh hoạt, minh bạch và gắn với mục tiêu phát triển dài hạn. Theo đó, Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo hệ sinh thái, không làm thay doanh nghiệp, mà tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, sản phẩm mới và mô hình kinh doanh mới.

Một điểm đáng chú ý là cải cách giáo dục đại học và đào tạo nghề. Bởi chúng ta rất cần một lực lượng lao động có tư duy sáng tạo, kỹ năng công nghệ và khả năng thích ứng cao. Nếu không có nguồn nhân lực chất lượng cao, mọi mô hình tăng trưởng sẽ chỉ là lý thuyết.

Trao quyền cho kinh tế tư nhân

Cuối cùng, không thể thiếu vai trò tiên phong của khu vực kinh tế tư nhân trong việc hiện thực hóa mô hình mới. Đây là lực lượng có khả năng phản ứng nhanh, sáng tạo và tạo ra giá trị gia tăng thực chất nếu được trao quyền và cơ hội cạnh tranh công bằng.

Trong nghiên cứu của GS.TS Ngô Thắng Lợi, ông chỉ ra rằng thể chế hiện nay vẫn chưa đủ minh bạch và cạnh tranh để khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào công nghệ, R&D và chuyển đổi xanh. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ, năng lực quản trị và công nghệ thấp, ít tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc tiếp cận vốn, đất đai và thị trường còn gặp nhiều rào cản.

Kinh tế tư nhân không chỉ là lực lượng sản xuất, mà là nơi khởi nguồn của sáng tạo. Nếu không có chính sách khuyến khích thực chất, khu vực này sẽ không thể đóng vai trò dẫn dắt. Muốn vậy, việc cần cấp thiết vẫn là cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, và tạo cơ chế để doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các chương trình đổi mới quốc gia.

Ngay trong lúc này, việc cải cách hệ thống thuế để khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào năng suất và công nghệ rất có giá trị. Cần giảm gánh nặng thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời thiết kế các ưu đãi thực chất cho doanh nghiệp đổi mới. Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, và thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp FDI và khu vực công.

Một điểm quan trọng là thay đổi tư duy chính sách: từ hỗ trợ hành chính sang hỗ trợ thị trường, từ kiểm soát sang khuyến khích. Nếu khu vực tư nhân được kích hoạt đúng cách, đây sẽ là lực lượng tiên phong trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đưa Việt Nam cất cánh, vững vàng bước vào kỷ nguyên vươn mình.

Việc thúc đẩy các ngành kinh tế số như thương mại điện tử, tài chính số, giáo dục số, nông nghiệp thông minh… không chỉ tạo ra tăng trưởng nhanh, mà còn mở ra cơ hội để Việt Nam tạo lợi thế cạnh tranh mới nếu đi trước và đi nhanh.

Các tin khác