Theo đó, mục tiêu tăng trưởng cao cùng yêu cầu đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, phát triển công nghiệp, công nghệ cao, chuyển đổi số, năng lượng và mở rộng tiêu dùng nội địa đang kéo theo nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng lớn.
Trong khi đó, cấu trúc dẫn vốn của nền kinh tế hiện tại vẫn mất cân đối khi phụ thuộc quá lớn vào hệ thống ngân hàng - vốn phù hợp với yêu cầu cung cấp nguồn vốn ngắn và trung hạn - trong khi các lĩnh vực đầu tư chiến lược lại đòi hỏi nguồn vốn dài hạn, ổn định và có khả năng hấp thụ rủi ro cao hơn.
Thực tế, năm 2025, tỷ lệ tín dụng trên GDP đã đạt mức 145%. Tính đến giữa tháng 5, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 19,4 triệu tỷ đồng (tăng hơn 18%. Nhu cầu vốn của nền kinh tế đang gia tăng với tốc độ nhanh hơn khả năng mở rộng tín dụng theo định hướng điều hành, qua đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cân bằng hệ thống dẫn vốn và gia tăng vai trò của các kênh huy động vốn dài hạn.
Những chuyển động gần đây cho thấy quá trình tái cân bằng cấu trúc các kênh dẫn vốn đã bắt đầu rõ nét hơn. Một tín hiệu đáng chú ý là hoạt động IPO đang cho thấy dấu hiệu hồi phục sau nhiều năm trầm lắng kể từ làn sóng bùng nổ giai đoạn 2017-2018.
Theo kế hoạch công bố, danh mục các thương vụ IPO tiềm năng trong giai đoạn 2026-2028 có tổng giá trị ước tính khoảng 47,5 tỷ USD, cho thấy khả năng hình thành một “làn sóng IPO” mới. Động lực của chu kỳ này đến từ sự cộng hưởng của nhiều yếu tố như: triển vọng nâng hạng thị trường, cùng những thay đổi đáng kể trong khung pháp lý theo hướng thuận lợi hơn cho doanh nghiệp huy động vốn.
Đáng chú ý, nếu làn sóng IPO ở giai đoạn trước gắn nhiều với cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước. Song song với đó, xu hướng chuyển niêm yết từ UPCoM hoặc HNX sang HoSE cũng gia tăng, cho thấy sự chủ động nâng cấp vị thế trên thị trường của doanh nghiệp để tiếp cận thanh khoản sâu hơn, cải thiện mức định giá trên thị trường và mở rộng tệp nhà đầu tư.
Ở chiều ngược lại, rủi ro lớn nhất đến từ các biến số bên ngoài và áp lực chi phí. Với biến số có độ bất định cao là tình hình địa chính trị quốc tế, dù hơn 22% ý kiến nhìn nhận theo hướng tích cực, vẫn có tới 39% đánh giá tiêu cực trước nguy cơ các cú sốc bên ngoài.