Phát triển thủy điện: Tiềm năng bị băm nát

Hàng loạt sự cố xảy ra từ các thủy điện Đắk Mek 3, Đồng Nai 6, 6A, Sông Tranh 2… có thể coi là những hệ lụy không thể chối cãi của việc phát triển ồ ạt các dự án thủy điện nhưng không có quy hoạch rõ ràng, buông lỏng khâu quản lý. Hệ quả của “cơn khát” thủy điện từ 10 năm trước đã chính thức phát tác và nếu không có cái nhìn nghiêm túc, hậu quả sẽ khó lường.

Hàng loạt sự cố xảy ra từ các thủy điện Đắk Mek 3, Đồng Nai 6, 6A, Sông Tranh 2… có thể coi là những hệ lụy không thể chối cãi của việc phát triển ồ ạt các dự án thủy điện nhưng không có quy hoạch rõ ràng, buông lỏng khâu quản lý. Hệ quả của “cơn khát” thủy điện từ 10 năm trước đã chính thức phát tác và nếu không có cái nhìn nghiêm túc, hậu quả sẽ khó lường.

Bội thực thủy điện

Với những ưu thế lớn về hệ thống sông suối, tiềm năng về thủy điện của Việt Nam đã được nhận ra từ rất sớm. Theo thống kê, tiềm năng thủy điện nước ta được xác định khoảng 300 tỷ kWh (tính cho những con sông dài hơn 10km), tiềm năng kinh tế khoảng 75-80 tỷ kWh.

Chính vì xác định được lợi thế to lớn của loại hình này, trong nhiều năm qua nước ta đã “say” với “cơn khát” thủy điện nên tập trung khai thác nguồn năng lượng này, trong khi công tác quy hoạch, quản lý, giám sát không tốt, khiến tiềm năng thủy điện đã bị khai thác gần cạn kiệt.

Việc phát triển quá nóng và xây dựng thiếu quy hoạch thống nhất các hồ chứa thủy lợi, nhất là hồ chứa thủy điện của các thành phần kinh tế phi nhà nước, đang gây ra tình trạng hủy hoại nghiêm trọng tài nguyên đất, rừng đầu nguồn, khoáng sản, đa dạng sinh học và nhiều tài nguyên thiên nhiên khác; đồng thời gây hậu quả nghiêm trọng và lâu dài về môi trường, nhất là môi trường xã hội ở nhiều địa phương miền Trung.

PGS.TS LÊ BẮC HUỲNH,
Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam

Từ mức công suất trên 1.100MW năm 1990, đến năm 2004, công suất của cả hệ thống điện đã tăng lên 4.100MW khi một số nhà máy thủy điện lớn hòa lưới như Hòa Bình (1.920MW), Hàm Thuận - Đa Mi (300+175MW), Yaly (720MW)…

Giai đoạn 2007-2010 có thêm 23 nhà máy thủy điện mới được bổ sung với tổng công suất tăng thêm khoảng 4.000MW. Tính đến nay, cả nước có gần 1.100 dự án thủy điện trong quy hoạch với tổng công suất lắp đặt xấp xỉ 26.000MW, trong đó có 107 dự án thủy điện vừa và lớn, khoảng 990 dự án nhỏ và vừa với tổng công suất khoảng 7.500MW. Gần 200 dự án thủy điện đã đi vào hoạt động với tổng công suất 12.000MW.

Tốc độ phát triển quá nhanh đã dẫn đến việc tràn lan các dự án thủy điện mà số lượng không đi cùng chất lượng. Không khó để điểm danh các địa phương đang “ngập lụt” trong thủy điện.

Chỉ tính riêng khu vực miền Trung và Tây nguyên, số lượng dự án thủy điện được phê duyệt không khác gì nấm mọc sau mưa. Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hiện có 62 dự án thủy điện đã được phê duyệt, với tổng công suất lên tới 1.601MW. Mới đây, địa phương này đã phải tạm dừng triển khai 19 dự án do “quá tải”.

Các tỉnh Gia Lai có 78 dự án thủy điện lớn nhỏ, Kon Tum 68 dự án, Lâm Đồng 71 dự án. Tỉnh Quảng Ngãi cũng đã quy hoạch 26 dự án thủy điện, song đến thời điểm này chỉ có 3 dự án đã sản xuất điện, 2 dự án đang thi công, còn lại đều trong tình trạng… làm dự án rồi để đó.

Nếu tính trên các con sông, các dự án thủy điện còn khủng khiếp hơn. Trên cả 3 lưu vực sông Sê San, Sêrêpok, sông Ba được quy hoạch tới 113 bậc thang thủy điện. Trên sông Vu Gia - Thu Bồn có tới 10 bậc thang thủy điện lớn nhỏ; sông Kôn, A Vương có 7 bậc thang thủy điện.

Lưu vực sông Đồng Nai có khoảng 20 dự án thủy điện lớn và vừa, chưa tính các thủy điện nhỏ, siêu nhỏ do các địa phương tự duyệt quy hoạch, như sông Đồng Nai có 9 thủy điện, sông La Ngà có 5 thủy điện và sông Bé có 6 thủy điện.

Sông Ba cũng bị chia cắt bởi 7 công trình thủy điện cỡ vừa. Những dự án thủy điện này đang “thắt cổ” các dòng sông và để lại bãi “chiến trường” tan hoang ở vùng hạ lưu.

Hệ lụy nhãn tiền

Dù chi chít đến mức có thể nói là thừa thãi các nhà máy thủy điện, nhưng có một thực tế đáng buồn là vào mùa khô sản lượng điện thiếu trầm trọng. Thậm chí có những mùa khô, nhiều nhà máy thủy điện ở Tây nguyên chỉ chạy cầm chừng 2-4 giờ do thiếu nước.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang từ điều hành hệ thống điện theo tháng phải chuyển sang điều hành theo tuần, thậm chí theo ngày, tùy vào mực nước trong các hồ thủy điện. Trong khi đó, cái giá phải trả cho các dự án thủy điện quá cao.

Năm 2010, tổng công suất lắp máy 10.211MW thì diện tích rừng bị mất 275.697ha. Ước tính tổng công suất lắp máy năm 2015 là 19.874MW sẽ mất 536.598ha rừng và năm 2020 mất khoảng 651.996ha rừng do tổng công suất lắp máy tăng lên 24.148MW.

Ước tính diện tích mất đất rừng do xây dựng thủy điện ở Việt Nam trung bình 27ha/MW. Đặc biệt, đời sống của người dân bị ảnh hưởng trầm trọng.

Câu chuyện người dân huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) nơm nớp từng giờ với thủy điện Sông Tranh 2, hay việc tái định cư ở lòng hồ thủy điện Sơn La là thí dụ điển hình về việc đầu tư tràn lan các dự án thủy điện bất chấp hậu quả phải gánh.

Tốc độ phát triển quá nhanh đã dẫn đến việc hình thành tràn lan các dự án thủy điện mà số lượng không đi cùng chất lượng. Ảnh: GIA HÙNG

Tốc độ phát triển quá nhanh đã dẫn đến việc hình thành tràn lan
các dự án thủy điện mà số lượng không đi cùng chất lượng. Ảnh: GIA HÙNG

Với thực trạng khai thác và quản lý thủy điện như hiện nay, chúng ta đang mất nhiều hơn được. Gần 10 năm mải mê với mục tiêu cải thiện tình trạng thiếu điện mà buông lỏng quản lý, đã khiến bản đồ thủy điện bị băm nát, chồng chéo.

Xây dựng thủy điện không theo một bộ quy tắc chuẩn, thiếu thể chế nghiêm ngặt khi phê duyệt quy hoạch, thiếu am hiểu về chuyên môn… đã khiến các dự án thủy điện từ chỗ mang lại ích lợi lớn về kinh tế, nay đẩy Nhà nước vào tình thế phải khắc phục và gánh đỡ những hệ lụy do các công trình này gây ra.

 Hàng trăm dự án thủy điện quy mô nhỏ dưới 3MW đã được đưa vào quy hoạch nhưng đến nay chưa có chủ đầu tư, hoặc nhiều dự án đã phát điện nhưng không được đấu nối vào lưới điện quốc gia. Chưa kể chất lượng các đập thủy điện, đặc biệt thủy điện tư nhân cũng là dấu hỏi lớn sau hàng loạt sự cố vừa qua.

Theo ông Phạm Tiến Văn, Phó Cục trưởng Cục Giám định nhà nước về chất lượng các công trình xây dựng - Bộ Xây dựng, công tác quản lý chất lượng xây dựng thủy điện đang có vấn đề. Ngoài các nguyên nhân khách quan còn do chất lượng công tác khảo sát, thiết kế chưa đạt yêu cầu; năng lực các chủ đầu tư, tư vấn giám sát, nhà thầu thi công xây dựng... yếu kém, không làm hết trách nhiệm.

Điều đáng nói, việc buông lỏng quản lý các hồ chứa đã dẫn tới những vi phạm nghiêm trọng về quản lý công trình, đất đai, về bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, môi trường, gây lãng phí, thất thoát tài sản nhà nước và nhân dân, gây khiếu kiện vượt cấp, kéo dài làm mất ổn định xã hội, giảm sút lòng tin của nhân dân…

Rà soát, loại bỏ dự án không khả thi

Trên thực tế, câu chuyện cân đo đong đếm được và mất của các nhà máy thủy điện không phải mới đặt ra gần đây. Hệ lụy của việc triển khai ào ạt các dự án thủy điện tại miền Trung đã được các chuyên gia cảnh báo từ hơn 10 năm trước.

Thủy điện bổ sung nguồn năng lượng cho hệ thống điện quốc gia, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, tăng thu nhập cho nền kinh tế, tạo công ăn việc làm; hình thành các tiểu vùng khí hậu nhờ tạo nên diện tích mặt thoáng lớn vùng trước đập; giảm lượng đỉnh lũ/lưu lượng lũ hạ lưu… Thế nhưng, mặt tích cực của thủy điện phụ thuộc nhiều vào ý chí của con người, trong khi đây lại là điểm yếu trong công tác quy hoạch, quản lý hiện nay.

TS. ĐÀO TRỌNG TỨ,
Ủy viên Ban Cố vấn Mạng lưới sông ngòi Việt Nam

 Việc các dự án thủy điện nhỏ do tư nhân làm chủ đầu tư ồ ạt bung ra trong những năm gần đây bởi cơ chế khuyến khích đầu tư của Tổng sơ đồ Điện VI nhằm nhanh chóng tăng cường nguồn điện mới để chống thiếu điện, đã từng vấp phải không ít phản đối. Theo nhiều chuyên gia, việc khai thác các dự án thủy điện hiện nay đang “tận diệt” tài nguyên thiên nhiên.

Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020, có xét đến năm 2030, (gọi tắt là Tổng sơ đồ điện 7), tỷ trọng thủy điện trong tổng công suất nguồn phát vẫn rất lớn, chiếm đến 23,1%. Vì thế, việc rà soát lại các dự án thủy điện, loại bỏ những dự án không khả thi, có tác hại lớn đến môi trường là điều cấp thiết hiện nay.

Đặc biệt, công tác đánh giá tác động đến môi trường, cuộc sống của người dân cần được thực hiện nghiêm túc. Bên cạnh đó, siết chặt các yêu cầu kỹ thuật đối với các dự án này. Tính đến tháng 5-2012, Bộ Công Thương đã quyết định đình chỉ, loại khỏi quy hoạch 52 dự án thủy điện vì không đáp ứng các điều kiện của Chính phủ. 331 dự án thủy điện nhỏ, công suất dưới 3MW cũng đã được loại bỏ.

Theo ông Phạm Tiến Văn, trong dự thảo Nghị định sửa đổi về quản lý chất lượng công trình xây dựng, Bộ Xây dựng cũng đã đưa ra một số quy định mới như thẩm tra thiết kế, kiểm tra công trình trước khi đưa vào sử dụng, công khai thông tin năng lực của các chủ thể tham gia xây dựng công trình.

Các tin khác