Giảm áp lực cho ngân hàng bằng chứng khoán và trái phiếu

(ĐTTCO) - Nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số rất lớn, trong khi dư địa mở rộng tín dụng ngày càng thu hẹp, điều này đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ để phát triển các kênh huy động vốn trung và dài hạn.

Phát biểu tại hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn” do Tạp chí Nhà đầu tư phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức sáng 23-7, tại Hà Nội, bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN, cho biết tính đến ngày 13-7, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng gần 7,9% so với cuối năm 2025.

Như vậy, chỉ trong hơn nửa đầu năm, hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm gần 1,5 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế, góp phần hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng.

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: LƯU THỦY

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: LƯU THỦY

Tuy nhiên, theo đại diện NHNN, thực tế cũng cho thấy hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng và giai đoạn 2026-2030 lên tới 38,5 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào vốn ngân hàng.

Do đó, cần phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, để tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế, qua đó giảm áp lực cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng.

Thông tin tại hội thảo, ông Hà Duy Tùng, Phó Chủ tịch UBCKNN, cho biết quy mô thị trường chứng khoán tiếp tục mở rộng. Tính đến cuối tháng 6, vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt gần 11 triệu tỷ đồng, tương đương gần 83% GDP ước tính năm 2025, tăng 6% so với cuối năm trước.

Bên cạnh đó, quy mô thị trường trái phiếu niêm yết đạt khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 22% GDP. Tổng giá trị huy động vốn qua cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm đạt 325.300 tỷ đồng, tăng gần 16% so với cùng kỳ, đang khẳng định vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng.

Đồ họa thông tin về nhu cầu vốn của nền kinh tế và tỷ lệ vốn tín dụng trong cơ cấu vốn. Ảnh: AI tạo - thực hiện: LƯU THỦY

Đồ họa thông tin về nhu cầu vốn của nền kinh tế và tỷ lệ vốn tín dụng trong cơ cấu vốn. Ảnh: AI tạo - thực hiện: LƯU THỦY

Trong khi đó, theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế trên 10%, tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP của nhiều quốc gia thường dao động quanh mức 39-43%. Tuy nhiên, các nền kinh tế không thể duy trì lâu dài mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn và lao động, mà phải chuyển dần sang khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách thể chế và nâng cao năng suất.

"Vì vậy, Việt Nam cần đi tắt, đón đầu bằng cách kết hợp đồng thời 3 yếu tố: đầu tư, hấp thụ công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay vì phát triển tuần tự. Cùng với huy động vốn, việc phân bổ và sử dụng nguồn lực hợp lý, hiệu quả có ý nghĩa quyết định", TS. Cấn Văn Lực, nhận định.

Chia sẻ với phóng viên bên lề hội thảo, TS. Cấn Văn Lực cho rằng một trong những giải pháp quan trọng để phát huy các kênh dẫn vốn hiệu quả là chính sách phải kiện toàn, tạo hành lang pháp lý rõ ràng.

Những năm qua, nhiều ngân hàng đã tuyên bố hoạt động theo mô hình tập đoàn. Nhiều ngân hàng đã xây dựng mô hình với đầy đủ các mảng: ngân hàng, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, chứng khoán, công ty quản lý quỹ và sắp tới còn mở rộng sang lĩnh vực tài sản số. Vì thế, hệ sinh thái của nhiều ngân hàng mở rộng, mô hình tập đoàn tài chính vì thế cũng đang manh nha hình thành.

Các tin khác