Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước triển khai các giải pháp ổn định lãi suất, bảo đảm thanh khoản, giảm lãi suất cho vay, giảm chi phí cho nền kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối; xử lý nghiêm hành vi cạnh tranh lãi suất không lành mạnh; điều hành tăng trưởng tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và khả năng hấp thụ của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các dự án trọng điểm tiếp cận các nguồn vốn.
Thời gian qua, bài toán làm sao để khơi thông nguồn vốn tín dụng, định hướng dòng vốn chảy vào đúng lĩnh vực ưu tiên để tạo tăng trưởng đã được Chính phủ, mà trực tiếp là Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo sát sao.
Ở khía cạnh doanh nghiệp, sau ảnh hưởng từ những cú sốc liên tiếp trong những năm gần đây (đại dịch Covid-19, chiến tranh thương mại, đứt gãy nguồn cung, nghẽn mạch logistics do biến động địa chính trị toàn cầu), sức chống chịu của nhiều doanh nghiệp trong nước đã bị bào mòn.
Đơn hàng sụt giảm, hàng tồn kho tăng khiến nhu cầu vay vốn mới để mở rộng sản xuất gần như đóng băng, trong khi lãi suất cho vay neo ở mức cao, biên lợi nhuận của doanh nghiệp bị thu hẹp đáng kể. Việc gánh thêm chi phí tài chính đắt đỏ khiến các phương án kinh doanh trở nên rủi ro và kém khả thi, buộc doanh nghiệp phải e dè trước các quyết định vay vốn.
Theo Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, nhóm các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam hiện nay chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp hơn 45% GDP và tạo ra trên 60% việc làm cho xã hội, nhưng chỉ có khoảng 20-25% tiếp cận được vốn vay ngân hàng.
Một trong những “điểm nghẽn” là chuẩn tín dụng hiện nay chủ yếu được xây dựng trên cơ sở đặc điểm của doanh nghiệp lớn nhưng lại áp dụng tương đối đồng đều đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khiến các doanh nghiệp này không thể đáp ứng.
Trong khi đó, về phía các ngân hàng cũng đang chịu áp lực lớn. Theo Ngân hàng Nhà nước, 6 tháng đầu năm nay tín dụng tăng 7,7% trong khi huy động vốn chỉ tăng 5,5%, phản ánh sự lệch pha về cung - cầu vốn. Điều này cũng đặt các ngân hàng phải đối mặt với bài toán đảm bảo hệ số an toàn vốn do áp lực tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động, nợ xấu tiềm ẩn và áp lực tuân thủ các chuẩn mực quốc tế.
Đây là nguyên nhân sâu xa khiến lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại khó có thể giảm sâu.
Để giải bài toán hài hòa lợi ích của cả hai phía, theo các chuyên gia, Ngân hàng Nhà nước hiện nay cần đồng thời thực hiện hai mục tiêu: một mặt cần giữ mặt bằng lãi suất cả huy động lẫn cho vay hiện nay ổn định, không tăng thêm; mặt khác cần xem xét và yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay đối với những lĩnh vực ưu tiên.
Điều này có nghĩa các ngân hàng thương mại phải đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng, thiết kế các gói vay ưu đãi theo hình thức “đo ni đóng giày” cho từng nhóm ngành trọng điểm thay vì áp dụng một quy chuẩn cứng nhắc.
Mới đây, đại điện lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cho biết đã họp và chỉ đạo, khuyến khích các ngân hàng thương mại chủ động bố trí nguồn vốn cho vay ưu đãi, giảm lãi suất ưu đãi với các chương trình tín dụng hướng đến doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như các lĩnh vực ưu tiên.
Đến nay, nhóm các ngân hàng thương mại Nhà nước đã đăng ký 220.000 tỷ đồng để cho vay gói ưu đãi này. Ngân hàng Nhà nước đang khẩn trương xây dựng các hướng dẫn cụ thể, chi tiết để các ngân hàng có thể triển khai sớm. Đây là chính sách đúng đắn, thể hiện sự đồng hành của hệ thống ngân hàng cùng doanh nghiệp vượt khó.
Tuy nhiên, để dòng vốn tín dụng nói trên thực sự chảy vào đúng địa chỉ sản xuất kinh doanh cần sự song hành của nhiều biện pháp khác (giảm thuế, phí, đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, bơm tiền vào nền kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và kích thích tổng cầu), từ đó nâng cao năng lực nội sinh, tạo động lực cho tăng trưởng.