Trái chiều lãi suất huy động và cho vay
Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), làn sóng giảm lãi suất tiền gửi đã lan rộng toàn hệ thống với hơn 42 ngân hàng thương mại tham gia điều chỉnh. Nhóm ngân hàng quốc doanh (Vietcombank, BIDV, VietinBank) đã đưa lãi suất kỳ hạn 6–9 tháng về mức chỉ 3,5%/năm.
Trái ngược với đà lao dốc của lãi suất huy động, người đi vay lại chưa cảm nhận được sự chuyển biến tương ứng. Nhiều dòng vốn vay cũ của cá nhân và doanh nghiệp sau khi hết thời gian ưu đãi đã bị đẩy lên mức 10% - 11%/năm. Các gói vay mới lãi suất thấp chỉ xuất hiện nhỏ giọt, chủ yếu mang tính chất ngắn hạn hoặc giới hạn khắt khe trong các lĩnh vực ưu tiên như sản xuất công nghiệp và xuất khẩu.
Ông Phạm Xuân Hòe, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng phân tích một số lý do khiến mặt bằng lãi suất chưa giảm như kỳ vọng: "Khi giá dầu tăng cao, chi phí đẩy lên, lạm phát tăng, mặt bằng giá chung đều tăng lên, nhiều doanh nghiệp vận tải gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ, kỳ vọng người tiêu dùng khi mặt bằng giá cả cao, vì vậy ngân hàng phải trả lãi suất thực dương, nếu không sẽ chuyển kênh khác để bảo vệ giá trị đồng tiền, như vậy các ngân hàng không thể tránh được việc đẩy lãi suất lên.
Nguyên nhân tiếp theo là thị trường dựa quá nhiều vào hệ thống ngân hàng, như vậy hệ thống ngân hàng là nguồn cung ứng chính cho vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế , mà nguồn vốn ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn, rủi ro về lãi suất cao, điều đó tạo áp lực lên lãi suất rất cao".
Về phía cơ quan quản lý, Ngân hàng Nhà nước liên tục đưa ra các giải pháp nhằm hỗ trợ cho các ngân hàng thương mại, mục đích làm sao không xảy ra cuộc đua lãi suất huy động vốn. Điều tiết linh hoạt qua Nghiệp vụ Thị trường Mở- Đây là công cụ chủ lực được NHNN áp dụng liên tục để "bơm – hút" dòng tiền, giải tỏa áp lực vốn ngắn hạn. Khi lãi suất liên ngân hàng có xu hướng vọt cao (giai đoạn cuối tháng 5 và đầu tháng 6), NHNN lập tức đảo chiều bơm ròng hàng chục nghìn tỷ đồng để hạ nhiệt thị trường.
Khi thanh khoản dư thừa, nhà điều hành lại thực hiện hút ròng thông qua đáo hạn và phát hành tín phiếu để chặn đứng rủi ro đầu cơ tỷ giá. NHNN cũng tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành cốt lõi từ cuối năm ngoái đến nay. Phương án này giúp các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn ổn định với chi phí hợp lý. Trần lãi suất huy động dưới 6 tháng vẫn được kiểm soát nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn cuộc đua tăng lãi suất giữa các ngân hàng thương mại nhỏ, giữ chân mặt bằng chi phí đầu vào không bị đẩy lên quá cao.
PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, giảng viên Học viện Ngân hàng cho rằng NHNN đã điều hành linh hoạt các công cụ để giữ mặt bằng lãi suất ổn định.
"Ngân hàng Nhà nước đã chủ động linh hoạt sử dụng các công cụ chính sách để ổn định thị trường như là công cụ hoán đổi tiền tệ, giúp cho các ngân hàng đáp ứng được nhu cầu bằng ngoại tệ hoặc nội tệ tại một thời điểm, như vậy sẽ giảm bớt được áp lực về mặt thanh khoản cho ngân hàng" - PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh cho biết.
Thời kỳ dòng tiền “dễ” chính thức khép lại
Sự chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay không đơn thuần là bài toán lợi nhuận của ngân hàng, mà chịu tác động từ ba áp lực vĩ mô lớn: Độ trễ chính sách từ 3 đến 6 tháng, các ngân hàng cần thời gian để tiêu thụ hết lượng vốn giá cao đã huy động từ các kỳ hạn trước đó. Chi phí vốn bình quân chưa thể giảm ngay lập tức để áp dụng mức lãi vay thấp hơn cho thị trường.
Áp lực tiếp theo đến từ hệ thống ngân hàng đang phải đối mặt với rủi ro nợ xấu gia tăng. Để đảm bảo an toàn hệ thống và có đủ nguồn lực trích lập dự phòng, các tổ chức tín dụng buộc phải duy trì biên độ an toàn, hạn chế tối đa việc hạ mạnh lãi suất đầu ra.
Thứ ba, việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) liên tục trì hoãn hạ lãi suất đã tạo áp lực lớn lên tỷ giá USD/VND, NHNN phải điều hành chính sách tiền tệ thận trọng. Nếu hạ lãi suất cho vay quá nhanh, dòng vốn có nguy cơ tháo chạy, gây mất ổn định tỷ giá và kích hoạt áp lực lạm phát.
Ông Nguyễn Đức Hoàng, chuyên gia phân tích, công ty chứng khoán Bảo Việt cho rằng: "Những yếu tố về địa chính trị đang biến động rất nhanh, vì vậy không có biện pháp điều hành chung mà cần sự linh hoạt của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Cần ưu tiên các mục tiêu về tăng trưởng, có nhiều dư địa về chính sách tiền tệ. NHNN có thể linh hoạt điều hành hạ lãi suất huy động và cho vay trong nửa cuối năm 2026".
Các chuyên gia kinh tế dự báo rằng mặt bằng lãi suất cho vay khó có thể giảm đồng loạt và sâu trên diện rộng. Xu hướng giảm trong giai đoạn tới sẽ mang tính chọn lọc rất cao. Dòng vốn giá rẻ sẽ chỉ được nắn vào các ngành động lực then chốt để phục vụ mục tiêu tăng trưởng GDP. Ngược lại, các lĩnh vực mang tính đầu cơ hoặc rủi ro cao như bất động sản phân khúc cao cấp hay tiêu dùng không thiết yếu vẫn sẽ phải chấp nhận thực tế neo cao của chi phí vốn. Thời kỳ dòng tiền “dễ” đã chính thức khép lại, nhường chỗ cho một chu kỳ thắt chặt và sàng lọc đầu tư nghiêm ngặt hơn.