Thu hút được dòng vốn chất lượng cao mới là bước đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng biến vốn, công nghệ, đơn hàng và mạng lưới sản xuất của khu vực FDI thành năng lực của nền kinh tế trong nước. Vì vậy, khi FDI bước vào một chu kỳ tăng mới, câu hỏi quan trọng không chỉ là Việt Nam thu hút thêm bao nhiêu tỷ USD, mà mỗi đồng vốn ngoại tạo thêm bao nhiêu giá trị gia tăng.
Khoảng trống sau dòng vốn tỷ USD
Vai trò của khu vực FDI trong xuất khẩu ngày càng lớn nhưng năng lực tham gia của doanh nghiệp trong nước chưa theo kịp. Trong 8 tháng năm 2026, khu vực FDI xuất khẩu 300,37 tỷ USD, tăng 26,9% và chiếm 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước; khu vực kinh tế trong nước đạt 74,47 tỷ USD, tăng 7,4%, chiếm 19,9%. Tỷ lệ doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đã giảm từ 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023.
Khoảng cách này cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở kim ngạch xuất khẩu mà còn ở khả năng Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị gia tăng, công nghệ và các mắt xích sản xuất từ dòng vốn FDI quy mô tỷ USD.
Theo bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), sức lan tỏa của khu vực FDI đối với kinh tế trong nước chưa đạt như kỳ vọng. Nhiều doanh nghiệp FDI khi vào Việt Nam mang theo hệ sinh thái nhà cung cấp quen thuộc.
Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp Việt còn hạn chế về vốn, quản trị và công nghệ; số doanh nghiệp đủ chuẩn tham gia chuỗi cung ứng chưa nhiều. Chuyển giao công nghệ cũng còn chậm, chủ yếu diễn ra trong nội bộ tập đoàn, từ công ty mẹ sang công ty con. Thực tế, chi phí để doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn FDI là không nhỏ.
Công ty TNHH Cơ khí Duy Khanh đã đầu tư hơn 180 tỷ đồng xây dựng nhà máy cơ khí chính xác, ứng dụng công nghệ Sintering để nâng năng lực chế tạo khuôn mẫu, linh kiện và thiết bị.
Theo Chủ tịch Hội đồng thành viên Đỗ Phước Tống, dù đã cung ứng sản phẩm cho nhiều doanh nghiệp FDI lớn, công ty vẫn phải liên tục nâng cấp công nghệ, xây dựng nhà máy thông minh để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, dữ liệu và truy xuất theo thời gian thực.
Công ty TNHH Cơ khí chính xác SMC Phú Mỹ đầu tư hơn 6 triệu USD nâng cấp máy móc từ năm 2021, trước khi có đơn hàng. Một năm sau, doanh nghiệp nhận đơn hàng đầu tiên từ Samsung và đến nay duy trì vị trí nhà cung ứng cấp I. Sau khi vào được chuỗi, SMC tiếp tục đầu tư hệ thống điều hành sản xuất, kiểm soát chất lượng tự động, nghiên cứu phát triển sản phẩm và kết nối thêm doanh nghiệp Việt trở thành nhà cung ứng cấp II, III.
Điều này thể hiện doanh nghiệp phải liên tục nâng cao năng lực để giữ đơn hàng; đáp ứng những yêu cầu, công đoạn sản xuất có giá trị cao hơn của đối tác cũng như đủ sức kéo thêm nhà cung ứng Việt cùng tham gia. Đây chính là một trong những thước đo thực chất của chất lượng FDI: dòng vốn ngoại góp phần gia tăng chất lượng, năng lực sản xuất trong nước thay vì chỉ loay hoay ở khâu gia công và lắp ráp.
Tập trung nguồn lực vào dự án tạo sức lan tỏa
Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, trong đó 500-1.000 doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng cấp I; tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45%-50%. Thách thức đặt ra là chuyển doanh nghiệp Việt từ vị thế nhà cung ứng tiềm năng thành nhà cung ứng thực sự.
Theo bà Whitney Phạm, thành viên Ban điều hành Global Onchain Economic Alliance (GOEA), thu hút FDI cần gắn chặt hơn với khả năng hấp thụ của nền kinh tế trong nước. Muốn đi sâu vào chuỗi giá trị, doanh nghiệp Việt phải nâng chuẩn sản xuất, chất lượng nhân lực, năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp nhận công nghệ. Tham gia được chuỗi cung ứng mới là bước đầu; quan trọng hơn là từng bước làm chủ công nghệ và dịch chuyển lên những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.
Ở chiều ngược lại, chính sách thu hút FDI cũng cần tạo động lực để nhà đầu tư tăng liên kết với khu vực trong nước.
Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, đề xuất, việc hỗ trợ nên gắn với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư về nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước và chuyển đổi xanh. Qua đó, nguồn lực chính sách được tập trung vào những dự án thực sự tạo sức lan tỏa.
Cùng với doanh nghiệp và cơ chế chính sách, nguồn nhân lực là điều kiện quyết định khả năng hấp thụ công nghệ. Đào tạo kỹ sư, đội ngũ R&D và nhân lực quản trị công nghệ phải đi cùng quá trình phát triển nhà cung ứng. Máy móc, quy trình có thể được chuyển giao, nhưng công nghệ chỉ trở thành năng lực của nền kinh tế khi doanh nghiệp và người lao động trong nước có thể tiếp nhận, vận hành, cải tiến và từng bước làm chủ.
Nâng sức hấp thụ FDI vì vậy không dừng ở thu hút thêm dự án công nghệ cao, mà phải tạo được đường dẫn để vốn, công nghệ và thị trường chuyển hóa thành năng lực trong nước: Từ đơn hàng hình thành nhà cung ứng, từ chuyển giao công nghệ nâng năng lực sản xuất, từ đào tạo nhân lực tiến tới làm chủ công nghệ.
* GS-TS Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore:
Xây năng lực hấp thụ công nghệ
GS-TS Vũ Minh Khương
Muốn nâng sức hấp thụ công nghệ, chính sách KH-CN và đổi mới sáng tạo cần chuyển từ hỗ trợ từng hoạt động R&D sang kiến tạo hệ sinh thái kết nối Nhà nước, đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, tập đoàn đa quốc gia, startup, vốn đầu tư, nhân tài và mạng lưới toàn cầu. Năng lực nghiên cứu đi cùng khả năng kết nối, tiếp nhận và hấp thụ tri thức, công nghệ. Trọng tâm là xây dựng hạ tầng dữ liệu, AI, tiêu chuẩn công nghệ, nền tảng kết nối nhân tài; thúc đẩy liên kết đại học - doanh nghiệp và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đồng thời tạo điều kiện để công nghệ lan tỏa tới doanh nghiệp nhỏ và vừa thay vì tập trung ở một số tập đoàn lớn.
Thước đo cũng nên chuyển từ “chi bao nhiêu cho R&D” sang công nghệ tạo ra bao nhiêu năng lực và giá trị, thể hiện qua tỷ lệ thương mại hóa, mức độ hợp tác đại học - doanh nghiệp, năng lực đổi mới của doanh nghiệp và khả năng phổ cập công nghệ. Đích cuối cùng là biến tri thức, công nghệ thành năng suất, sức cạnh tranh và năng lực nội sinh của nền kinh tế.
* Bà Võ Thị Lan Phương, Giám đốc Điều hành Vriens & Partners Việt Nam:
Giảm chi phí tuân thủ
Bà Võ Thị Lan Phương
Trong cạnh tranh thu hút FDI chất lượng cao, ưu đãi chỉ là một yếu tố; khả năng dự báo chính sách và chi phí tuân thủ cũng tác động trực tiếp đến quyết định đầu tư. Vì vậy, nên rà soát các quy định về kiểm tra, báo cáo; loại bỏ yêu cầu trùng lặp, cung cấp lại dữ liệu Nhà nước đã có hoặc chấn chỉnh tình trạng nhiều cơ quan cùng kiểm tra một nội dung. Khi thay đổi chính sách cũng nên có lộ trình, thời gian chuyển tiếp hợp lý để doanh nghiệp chủ động kế hoạch đầu tư.
Phương thức quản lý nên chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm khi phù hợp, áp dụng quản lý theo mức độ rủi ro và chỉ đặt thêm nghĩa vụ khi lợi ích quản lý lớn hơn chi phí tuân thủ. Nhờ đó, nguồn lực doanh nghiệp đang dành cho thủ tục có thể chuyển sang đầu tư và đổi mới. Với công nghệ và mô hình kinh doanh mới, nên mở rộng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, quản lý theo kết quả thay vì buộc công nghệ mới vận hành theo khuôn khổ dành cho công nghệ cũ.
* Ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ Ngân hàng UOB Việt Nam:
Tiếp vốn cho doanh nghiệp tham gia chuỗi FDI
Ông Đinh Đức Quang
Khi Việt Nam hướng tới thu hút FDI công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, nguồn vốn cũng cần đi sâu hơn vào hệ sinh thái sản xuất. Vốn ngân hàng không chỉ phục vụ doanh nghiệp FDI mà cần hỗ trợ hạ tầng khu công nghiệp, logistics và doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng. Với nhà đầu tư nước ngoài, ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn, thanh toán, quản trị dòng tiền, ngoại hối và phòng ngừa rủi ro.
Trong khi đó, doanh nghiệp trong nước cần vốn đầu tư công nghệ, mở rộng sản xuất để đáp ứng tiêu chuẩn của các tập đoàn quốc tế. Khi nguồn lực tài chính đồng hành với cả hai khu vực, FDI sẽ có điều kiện tạo chuỗi cung ứng và tăng sức lan tỏa trong nền kinh tế.
Ngân hàng nước ngoài đã tham gia kết nối doanh nghiệp Việt Nam với nguồn vốn quốc tế, qua đó vừa hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp FDI, vừa góp phần nâng năng lực của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng.