Nguồn VLXD còn hạn chế
Theo thống kê giai đoạn 2026 – 2030, tổng nhu cầu sử dụng VLXD trên địa bàn rất lớn, bao gồm: khoảng 107,56 triệu m³ đá xây dựng; 77,19 triệu m³ cát xây dựng; 230,82 triệu m³ cát san lấp và 67,78 triệu m³ đất san lấp. Trong riêng năm 2026, nhu cầu sử dụng vật liệu đã ở mức cao, đặc biệt đối với cát san lấp và đất san lấp phục vụ các công trình hạ tầng trọng điểm.
Tuy nhiên, khả năng tự chủ nguồn VLXD của TP hiện nay còn hạn chế. Qua rà soát, năm 2026 nguồn cung các loại vật liệu chủ yếu đều chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế. Đối với đá xây dựng, dự kiến còn thiếu khoảng 4 triệu m³, cát xây dựng thiếu khoảng 14,34 triệu m³, cát san lấp thiếu khoảng 50,5 triệu m³, và đất san lấp thiếu khoảng 8,8 triệu m³. Đặc biệt, cát san lấp tiếp tục thiếu hụt nghiêm trọng trong cả giai đoạn 2027 – 2030, khi khả năng đáp ứng chỉ đạt khoảng 14,6% nhu cầu.
Trước tình hình đó, TP đã chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, tăng cường nguồn cung VLXD cho thị trường. Các giải pháp được đưa ra như khoanh định thêm các khu vực mỏ cát; mở rộng, nâng công suất khai thác các mỏ đá hiện hữu; tổ chức đấu giá thêm các mỏ đá xây dựng mới; triển khai cơ chế không đấu giá quyền khai thác khoáng sản đối với các mỏ phục vụ công trình sử dụng vốn ngân sách. Đồng thời tăng cường phối hợp với các địa phương lân cận nhằm hỗ trợ nguồn cung vật liệu cho các dự án trọng điểm như Vành đai 3, Vành đai 4.
Bên cạnh đó, cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP đối với khoáng sản nhóm IV đã phát huy hiệu quả tích cực trong việc rút ngắn thời gian cấp phép, bổ sung nhanh nguồn đất san lấp phục vụ thị trường. TP đã cấp trên 11 giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu vật liệu cho các công trình, dự án đang triển khai.
Song song với việc phát triển nguồn cung truyền thống, TP cũng đang từng bước thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng các loại vật liệu thay thế cát tự nhiên nhằm nâng cao tính tự chủ và phát triển bền vững ngành VLXD. Hiện nay, 2 loại vật liệu thay thế chính gồm cát nghiền (đá xay) và cát biển sau tuyển rửa đang được quan tâm nghiên cứu, áp dụng.
Qua thực tiễn triển khai tại một số công trình giao thông, cát nghiền đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc thay thế cát tự nhiên dùng đắp nền đường. Trong khi đó, cát biển sau tuyển rửa được đánh giá có tiềm năng lớn đối với các công trình san lấp và hạ tầng ven biển.
Tuy nhiên, việc phát triển các nguồn vật liệu thay thế vẫn còn nhiều khó khăn do hạn chế về công nghệ, công suất sản xuất, chi phí đầu tư, cơ chế pháp lý cũng như yêu cầu kiểm soát kỹ thuật, môi trường trong quá trình khai thác và sử dụng.
Đẩy nhanh quy hoạch, cấp phép nguồn vật liệu
Qua theo dõi diễn biến thị trường đến tháng 5-2026 cho thấy, giá nhiều loại vật liệu tiếp tục tăng do tác động từ tình hình kinh tế thế giới và biến động giá nguyên liệu đầu vào. Một số nhóm vật liệu có mức tăng đáng kể như: thép tăng khoảng 1,9%; xi măng tăng 3-5%; đá xây dựng tăng đến 14%; nhựa đường nhũ tương tăng đến 30%; vải địa kỹ thuật tăng đến 19%; ống nhựa tăng từ 25-63%.
Trước tình trạng này, Sở Xây dựng đang tiếp tục rà soát, kiểm tra các yếu tố hình thành giá nhằm kịp thời phát hiện, xử lý các trường hợp tăng giá bất hợp lý, góp phần ổn định thị trường VLXD trên địa bàn.
Từ thực tiễn triển khai cho thấy, để đảm bảo nguồn cung VLXD phục vụ phát triển hạ tầng và đô thị trong thời gian tới, cần tiếp tục triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Trong đó, trọng tâm là đẩy nhanh công tác quy hoạch, cấp phép và nâng công suất khai thác khoáng sản, phát triển mạnh các nguồn vật liệu thay thế, tăng cường liên kết vùng trong cung ứng VLXD. Đồng thời, các đơn vị chức năng cần siết chặt công tác quản lý giá, chống đầu cơ, thao túng thị trường.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế giao các nhà đầu tư chiến lược tham gia khai thác, chế biến vật liệu thay thế như cát biển sau tuyển rửa. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ sản xuất cát nghiền, thúc đẩy tái chế chất thải xây dựng nhằm hình thành nguồn VLXD tuần hoàn, thân thiện môi trường và bền vững.