Bước chuyển tư duy, từ hỗ trợ đến kiến tạo

(ĐTTCO) - Sau 40 năm Đổi mới, tư duy phát triển kinh tế của Việt Nam đang có những chuyển biến sâu sắc: từ nhìn nhận kinh tế tư nhân (KTTN) như một khu vực cần được khuyến khích, hỗ trợ, đến xác định đây là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. 

Từ thừa nhận đến trao quyền

Nhìn lại quá trình phát triển của KTTN ở Việt Nam có thể thấy, mỗi bước tiến về chính sách đều gắn với một sự thay đổi quan trọng trong tư duy. Mốc thứ nhất là giai đoạn 1988-1990. Khi đó chúng ta chuyển từ quan điểm coi KTTN là đối tượng cải tạo sang thừa nhận khu vực này và cho phép hoạt động trong một số ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật.

Nhưng sự thừa nhận đó chưa đồng nghĩa với một môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi. DN tư nhân khi ấy vẫn phải đối mặt với rất nhiều rào cản trong quá trình hoạt động.

tsphanduchieu.gif

Mốc thứ hai đến vào năm 1999-2000, với sự ra đời của Luật DN. Đây là sự thay đổi lớn hơn về tư duy đối với quyền kinh doanh. Nếu trước đó, tư nhân chỉ được làm những gì Nhà nước cho phép, thì tư duy mới chuyển sang nguyên tắc DN được kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm.

Đi cùng với thay đổi về quyền kinh doanh là thay đổi rất mạnh về thể chế và thủ tục. Từ chỗ phải xin phép để thành lập DN chuyển sang đăng ký kinh doanh. Đây là sự thay đổi trong cách Nhà nước nhìn nhận quyền tự do kinh doanh của người dân và DN.

Hai mốc đó cho thấy một quá trình chuyển biến rất rõ: từ chỗ thừa nhận KTTN đến trao quyền kinh doanh cho khu vực này. Và Nghị quyết 68-NQ/TW ra đời, nếu được triển khai thực hiện tốt có thể tạo ra bước ngoặt, đột phá - mốc thứ ba trong lịch sử phát triển của khu vực KTTN.

Đây cũng chính là bước chuyển trong tư duy phát triển: từ việc Nhà nước chủ yếu tháo gỡ, hỗ trợ từng khó khăn của DN, sang việc chủ động kiến tạo một môi trường thể chế thuận lợi để DN phát triển.

Khi KTTN được xác định là một động lực quan trọng nhất, thì môi trường để khu vực này phát triển cũng phải được xem là một phần của năng lực phát triển quốc gia.

Tháo gỡ từng việc, cải cách từ gốc

Nghị quyết 68-NQ/TW đặt ra yêu cầu: tiếp tục tạo thuận lợi cho việc gia nhập và hoạt động trên thị trường của DN tư nhân, trong đó có mục tiêu cắt giảm đáng kể thủ tục và chi phí tuân thủ. Nhưng quan trọng hơn, tinh thần của nghị quyết là loại bỏ những rào cản không cần thiết đối với hoạt động kinh doanh của DN.

Từ góc độ đó, cải cách thể chế không chỉ là sửa đổi một vài điều khoản để DN dễ thực hiện hơn. Trong nhiều trường hợp, phải đặt câu hỏi ngược lại: quy định này có thực sự cần thiết không, mục tiêu quản lý là gì, có cách nào đạt được mục tiêu đó với chi phí thấp hơn cho DN hay không?

Đó là một thay đổi quan trọng trong tư duy quản lý. Bởi nếu Nhà nước tạo ra quá nhiều rào cản rồi sau đó lại tổ chức tháo gỡ từng rào cản, thì cải cách sẽ luôn đi sau. Một cách tiếp cận khác là chủ động thiết kế ngay từ đầu khi môi trường pháp lý thông thoáng, minh bạch và có khả năng dự báo.

Đây chính là ý nghĩa của tư duy kiến tạo. Kiến tạo không có nghĩa Nhà nước buông lỏng quản lý. Ngược lại, đó là chuyển từ cách quản lý nặng về kiểm soát đầu vào sang quản lý hiệu quả hơn đối với kết quả và rủi ro. Nghị quyết 68-NQ/TW cũng đặt yêu cầu xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, tư duy “không quản được thì cấm”, bảo đảm quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng của khu vực KTTN.

Q4--Thủ-tướng-Lê-Minh-Hưng-đến-dự-Hội-nghị-Thường-trực-Chính-phủ-với-cộng-đồng-doanh-nghiệp.gif
Thủ tướng Lê Minh Hưng đến dự Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp, sáng 18-7-2026 tại trụ sở Chính phủ Ảnh: TTXVN

Như vậy, Nhà nước không đứng ngoài thị trường, càng không phải rút khỏi quản lý, nhưng vai trò được đặt lại theo hướng tạo lập luật chơi, bảo đảm luật chơi được thực thi công bằng và xử lý những hành vi làm méo mó cạnh tranh.

Đó là sự khác biệt rất quan trọng giữa hỗ trợ và kiến tạo. Hỗ trợ thường được nhìn thấy qua một chính sách, một chương trình hay một biện pháp cụ thể dành cho DN. Còn kiến tạo phải được nhìn thấy trong chính chất lượng của môi trường kinh doanh: DN có được tự do kinh doanh hay không, quyền tài sản có được bảo vệ hay không, hợp đồng có được thực thi hiệu quả hay không, cạnh tranh có bình đẳng hay không và các quy định có ổn định, minh bạch, dễ dự đoán hay không.

Một điểm mới rất đáng chú ý trong Nghị quyết 68-NQ/TW là vấn đề tăng mức độ bảo vệ đối với khu vực KTTN. Trước đây, khi nói đến cải thiện môi trường kinh doanh, chúng ta thường tập trung nhiều vào giảm thủ tục, giảm phiền hà. Lần này, vấn đề bảo vệ DN được đặt rõ hơn, trong đó có yêu cầu phân định phù hợp trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hành chính, dân sự. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với niềm tin kinh doanh.

Nghị quyết 68-NQ/TW đặt ra một bước chuyển quan trọng trong cách nhìn về quan hệ giữa Nhà nước và DN: từ tư duy hỗ trợ, tháo gỡ từng khó khăn sang tư duy kiến tạo một môi trường để DN tự chủ phát triển. Nhà nước không làm thay DN, cũng không thể giải quyết mọi vấn đề của DN, mà cần tập trung hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng và giảm những rào cản không cần thiết để DN có điều kiện phát huy năng lực của mình.

Nhà nước đồng hành với khu vực KTTN

Nhà nước bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng; DN phải chịu trách nhiệm về quyết định đầu tư, quản trị, công nghệ, sản phẩm và hiệu quả kinh doanh của mình. Đây cũng là lý do cùng với cải cách thể chế, bản thân khu vực KTTN phải nâng cao năng lực nội tại.

Tuy nhiên, cần lưu ý một môi trường kinh doanh thuận lợi không thể thay thế năng lực quản trị yếu. Việc giảm thủ tục không thể thay thế đổi mới công nghệ. Việc tiếp cận nguồn lực thuận lợi hơn cũng không thể bảo đảm thành công nếu DN không nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh.

Vì vậy, sự thay đổi về tư duy phải diễn ra ở cả hai phía. Nhà nước chuyển từ tư duy kiểm soát sang tư duy kiến tạo; từ xử lý từng trường hợp sang giải quyết nguyên nhân mang tính hệ thống; từ tạo thuận lợi ở đầu vào sang xây dựng một môi trường cạnh tranh minh bạch và hiệu quả. DN cũng phải chuyển từ tâm lý trông chờ hỗ trợ sang chủ động nâng cao năng lực, tuân thủ pháp luật, đổi mới công nghệ và cạnh tranh bằng năng suất.

Nếu nhìn như vậy, Nghị quyết 68-NQ/TW không chỉ là một chính sách dành cho DN tư nhân. Đây còn là một phép thử đối với chất lượng quản trị nhà nước và chất lượng thể chế. Bởi cuối cùng, mục tiêu của cải cách không phải là có thêm bao nhiêu văn bản được sửa đổi, mà là DN thực sự cảm nhận được điều gì thay đổi trong hoạt động hàng ngày.

Nếu một tranh chấp được giải quyết nhanh hơn, quyền tài sản được bảo vệ tốt hơn, chi phí tuân thủ giảm xuống và DN có thể chủ động hơn trong quyết định kinh doanh, đó mới là kết quả thực chất của cải cách. Từ góc nhìn đó, bước chuyển từ hỗ trợ đến kiến tạo không phải là thay đổi cách gọi. Đó là thay đổi cách Nhà nước thực hiện vai trò của mình trong nền kinh tế.

Năm 1988-1990, chúng ta thay đổi tư duy để thừa nhận KTTN. Năm 1999-2000, chúng ta tiếp tục thay đổi để trao quyền kinh doanh. Với Nghị quyết 68-NQ/TW, nếu được triển khai đúng tinh thần, bước chuyển tiếp theo là kiến tạo môi trường để KTTN phát triển bằng thực lực.

Đó là quá trình chuyển từ việc giải quyết những khó khăn trước mắt của từng DN, sang xử lý những nguyên nhân thể chế tạo ra khó khăn; từ “hỗ trợ” sang “kiến tạo”; từ quản lý DN sang xây dựng một môi trường trong đó DN được tự do kinh doanh, được bảo vệ và được cạnh tranh bình đẳng.

Nếu làm được điều đó, ý nghĩa lớn nhất của Nghị quyết 68-NQ/TW không chỉ nằm ở những chính sách hỗ trợ cụ thể, mà ở chỗ tạo ra một phương thức mới để Nhà nước đồng hành cùng khu vực KTTN. Đó là không làm thay, không tạo đặc quyền, mà kiến tạo một môi trường minh bạch để những DN có năng lực lớn lên bằng chính năng lực của mình.

Chuyển từ hỗ trợ sang kiến tạo, trước hết là chuyển từ tư duy giải quyết từng khó khăn của DN, sang loại bỏ những nguyên nhân khiến DN thường xuyên phải đối mặt với khó khăn đó.

Các tin khác